Giới thiệu về phường Thanh Bình

LỜI GIỚI THIỆU

Để trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ quê hương của Đảng bộ và nhân dân phường Thanh Bình từ khi thành lập đến nay, được sự quan tâm chỉ đạo của Quận uỷ Hải Châu, Đảng bộ phường Thanh Bình tổ chức biên soạn cuốn sách Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng phường Thanh Bình giai đoạn 1954- 2005; nhằm ghi lại những sự kiện, những thành tích và công lao đóng góp của nhân dân, cán bộ và đảng viên qua các thời kỳ; đồng thời góp phần giáo dục cho cán bộ, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ biết trân trọng và yêu quí mảnh đất quê hương Thanh Bình và những công lao đóng góp của các thế hệ đi trước, phát huy những giá trị lịch sử, tiếp tục cống hiến tài năng trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng, thúc đẩy phường Thanh Bình phát triển để xứng đáng là phường của quận Hải Châu - trung tâm thành phố Đà Nẵng.

Bên cạnh sự giúp đỡ tạo điều kiện của Quận uỷ Hải Châu, với sự tham gia nhiệt tình của các bậc lão thành cách mạng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân, Ban Chấp hành Đảng bộ đã tổ chức nhiều cuộc toạ đàm nhân chứng lịch sử, với sự cố gắng của Ban Chỉ đạo biên soạn lịch sử của phường, cuốn sách Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng phường Thanh Bình giai đọan 1954-2005 được hoàn thành.

Do khả năng có hạn và nhiều nhân chứng chưa có dịp tham gia góp ý, chắc chắn tập sách không tránh khỏi những thiếu sót, Ban Thường vụ Đảng uỷ phường Thanh Bình rất muốn đảng viên, cán bộ, nhân dân đọc và góp ý bổ sung để lần tái bản sau được hoàn chỉnh.

Nhân dịp chào mừng kỷ niệm 64 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Ban Thường vụ Đảng uỷ phường Thanh Bình quyết định xuất bản tập sách "Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng phường Thanh Bình 1954-2005" trân trọng gửi đến bạn đọc.

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, ủng hộ về vật chất, tinh thần, cùng những tư liệu quí giá của các nhân chứng, sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo Ban Tuyên giáo Thành ủy, Quận ủy Hải Châu để tập sách này đến với cán bộ, nhân dân trong phường và bạn đọc gần xa.

 

                                                                                Thanh Bình, ngày 30 tháng 8 năm 2009

                                                                                     ĐẢNG UỶ PHƯỜNG THANH BÌNH

 

 

 Ảnh:
Bản đồ hành chính phường Thanh Bình

 

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC

1. Điều kiện tự nhiên:

Phường Thanh Bình thuộc quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, có diện tích tự nhiên 76,3641 ha (khoảng 0,76 km2), nằm về phía Bắc thành phố, một địa bàn hết sức quan trọng về mặt quân sự để bảo vệ thành phố Đà Nẵng từ biển Đông.

Phía Tây, Tây Bắc phường Thanh Bình có bờ biển Thanh Bình nằm trong vịnh Đà Nẵng, phía Đông Bắc giáp phường Thuận Phước, phía Đông Nam giáp phường Thạch Thang, phía Tây Nam giáp phường Tam Thuận (quận Thanh Khê). Phường Thanh Bình nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính đặc thù của khí hậu ven biển Trung Trung bộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25o C, nhiệt độ trung bình mùa hè 28-30oC.

Bãi biển Thanh Bình nằm trong vịnh Đà Nẵng, là địa danh lịch sử, có phong cảnh đẹp, nước biển trong xanh được bao bọc bởi dãy núi Hải Vân, nhân dân địa phương thường gọi là Vũng Thùng, ngoài ra còn có các tên cổ như Trà Úc, Trà Áo, Trà Sơn hay Đồng Long Loan. Trước đây, dọc bờ biển có rừng cây phi lao để chắn cát tạo thêm màu xanh và bóng mát cho bãi biển. Bờ biển Thanh Bình quanh năm sóng vỗ rì rào, tạo nét nên thơ cho thành phố Đà Nẵng.

Năm 1470, vua Lê Thánh Tông thân chinh vào Nam, khi đại quân dừng chân ở Vịnh Đà Nẵng, trước cảnh hữu tình biển trời, mây nước nhà vua có đề thơ rằng:

Tam canh dạ tĩnh Đầm Long nguyệt

Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

(Canh ba trăng lên tại xứ Đầm Long

Canh năm trống điểm tại thuyền Lộ Hạc[1])

Phường Thanh Bình có địa hình bằng phẳng, phần lớn là đất cát biển. Theo những người sống lâu năm tại địa phương, nguyên vùng này là bãi cát bồi, xen lẫn đầm hồ do biển tạo ra, kéo dài đến tận khu vực đường Thanh Long ngày nay. Lúc đầu là bãi cát hoang sơ, chỉ là nơi phơi ngư lưới cụ và neo đậu thuyền đánh cá của ngư dân trong vịnh Đà Nẵng.

So với các phường trong quận Hải Châu, đơn vị hành chính phường Thanh Bình hình thành muộn hơn. Tháng 7 năm 1954, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, quân đội Pháp ở miền Bắc Việt Nam chuyển quân về phía nam vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, Quảng Trị. Trong đó, một số binh lính trong quân đội Pháp mang theo cả gia đình vào sinh sống tại khu vực ven biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Từ đó, dân cư qui tụ ngày càng đông. Chính quyền Nguỵ thành lập xã Thanh Hà, sau đó tách địa giới hành chính và lập ra khu phố Xương Bình. Khu phố Xương Bình là tiền thân của phường Thanh Bình ngày nay.

       

Vùng đất Thanh Bình ngày nay được nhập vào đất Đại Việt từ năm 1306, vua Chămpa là Chế Mân dâng 2 châu Ô và Lý để làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân, em gái của vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông đổi tên châu Ô, châu Lý thành Thuận Châu (gồm phần đất Quảng Trị) và Hoá Châu (gồm Thừa Thiên và vùng đất từ đèo Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn).

Đến thời hậu Lê, vùng đất Thanh Bình thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong của Thừa Tuyên Thuận Hoá; dưới thời chúa Nguyễn, từ năm 1604 trở đi thuộc về Huyện Hoà Vang, Dinh Quảng Nam. Dưới thời Đồng Khánh (đến năm 1887) đất Thanh Bình thuộc Tổng Bình Thới Hạ, Huyện Hoà Vang. Đến ngày 27- 8 năm Mậu Tý (tức ngày 3-10-1888), triều đình nhà Nguyễn cắt 5 xã Thạch Thang, Hải Châu, Phước Ninh, Nam Dương, Nại Hiên làm nhượng địa cho Pháp, trong đó có vùng đất Thanh Bình. Ngày 3-1-1893, thực dân Pháp thành lập đơn vị hành chính đặt tên là Tourane và tách khỏi tỉnh Quảng Nam. Đất Thanh Bình thuộc thành phố Tourane, là đất nhượng địa của Pháp.

Sau khi xâm lược nước ta, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa ở Đà Nẵng, thực dân Pháp tiến hành xây dựng cảng Đà Nẵng và làm đập kè Thuận Phước, xây dựng đập đá Nại Hiên Đông, theo luồng dòng nước chảy, đất bồi ngày càng nhiều vào phía Tây cửa sông Hàn, dần dần hình thành dải đất từ Xuân Hà, Thanh Bình đến Thuận Phước. Để giữ đất, nhân dân trồng dương liễu dọc theo ven biển.

Sau cách mạng tháng 8-1945 thành công, vùng đất Thanh Bình ngày nay thuộc về thành phố Thái Phiên. Tháng 3-1946, để chuẩn bị kháng chiến theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thành phố Thái Phiên được chia thành 7 khu phố. Đất Thanh Bình thuộc về khu phố Trần Phú. Đến tháng 12-1946, kháng chiến bùng nổ, thành phố Đà Nẵng được chia thành 3 khu, đất Thanh Bình thuộc về  khu Trung thành phố Đà Nẵng.

Tháng 7-1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, lực lượng quân đội Pháp chuyển quân về miền Nam Việt Nam. Theo đó, một số gia đình binh lính người Việt di cư vào sống tại khu vực ven biển Thanh Bình. Chính quyền Nguỵ thành lập xã Thanh Hà, trong đó có khu phố Xương Bình. Địch xây dựng Trung tâm huấn luyện Bình trị (ngày nay là khu vực trường Cao đẳng công nghệ), Trung tâm tuyển mộ nhập ngũ số 1 của miền Trung, Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình, Khu chung cư 30 gian cấp cho đồng bào di cư năm 1954, trong đó có một số gia đình binh lính địch (nay thuộc tổ dân phố 31), Khu cư xá công chức nguỵ quyền ở kiệt vào kho lương thực (nay là tổ dân phố 37) đường Cao Thắng. Khu phố Xương Bình có các khóm Bình Định, Bình Sơn, Bình Minh, Bình Bắc, Bình Hải, Nam Hà, Bắc Hà, Tân Lập B, Tân Lập A. Thành phố Đà Nẵng lúc này được chia thành 3 quận, khu Trung gọi là quận II (sau gọi là quận I), gồm có 8 khu phố: Thiệu Bình, Xương Bình, Thạch Thang, Hải Châu, Nam Phước, Bình Hiên, Hoà Thuận và Hoà Cường. 

Sau ngày 29-3-1975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng, chính quyền cách mạng thành lập lại đơn vị hành chính mới. Tháng 7-1975, theo chủ trương chia lại địa giới quản lý hành chính cấp cơ sở, thống nhất tên gọi là phường. Khu phố Xương Bình được đổi thành phường Thanh Bình. Đến tháng 4.1978, Tỉnh uỷ Quảng Nam Đà Nẵng giải thể đơn vị hành chính cấp quận thành lập thành phố Đà Nẵng, phường Thanh Bình trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ Đà Nẵng (cũ).

Ngày 31-10-1996, Quốc hội quyết định tách thành phố Đà Nẵng thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Ngày 23-1-1997, Thủ tướng ra nghị định 07/CP thành lập bộ máy quản lý hành chính từ thành phố đến cơ sở. Phường Thanh Bình thuộc quận Hải Châu, một thời kỳ mới mở ra tạo điều kiện để thành phố Đà Nẵng   và phường Thanh Bình phát triển.

2. Tình hình kinh tế - xã hội: 

Dân cư phường Thanh Bình được hình thành muộn hơn so với các phường trong quận Hải Châu. Trước năm 1954, vùng đất Thanh Bình ngày nay, dân cư còn thưa thớt, chủ yếu sống tập trung dọc theo đường Khải Định (nay là đường Ông Ích Khiêm), đường Cường Để (nay là đường Đống Đa), đường Cao Thắng, Đinh Tiên Hoàng. Phần lớn nhân dân sống bằng nghề buôn bán nhỏ, dân lao động nghèo, một bộ phận làm nghề biển. Khu vực Tân Lập A, Tân Lập B, Hải Hà là bãi cát chưa có dân cư sinh sống.           

Sau tháng 7-1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, một số gia đình binh lính địch và giáo dân ở miền Bắc vào định cư sinh sống tại khu vực Hải Hà và  Bình An. Năm 1962, 1963, một bộ phận dân cư làm nghề cá ở làng chài  khu vực Lỗ Sài, Hoá Sơn, Cồn Bồi, Nại Nam thuộc xã Hoà Cường ra cư trú rải rác ở bãi biển Xương Bình, nay là Thanh Bình, nhưng chủ yếu là ở Cồn Aïn (Đa Phước, Thuận Phước ngày nay). Sau đó, một bộ phận nhân dân ở Hoà Cường tiếp tục di chuyển  ra ở để thuận tiện cho việc hành nghề đánh bắt hải sản.

Từ sau tháng 3 năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào Đà Nẵng mở rộng chiến tranh, khu vực Thanh Bình có sự thay đổi lớn về mặt xã hội, dân cư ngày càng đông, đường phố được nâng cấp. Chiến tranh ở các huyện thuộc tỉnh Quảng Nam ngày càng ác liệt, một bộ phận nhân dân do bị chiến tranh tàn phá, hoặc bị địch dồn dân, lập ấp chiến lược, nên chạy ra làm nhà ở dọc bờ biển Thanh Bình.        

Trong thời gian này, khu vực Hải Sơn dân cư chỉ tập trung ở các đường Thanh Long, Thanh Sơn, Thanh Thuỷ. Đường Hải Hồ lúc ấy chỉ là con đường đất lầy lội, kéo dài đến chùa Thanh Bình. Chính quyền nguỵ  đã cho xây dựng khu gia binh cho các gia đình lính ở khu vực Bình An (là khu vực thuộc tổ dân phố 15, 16 hiện nay). Đồng thời một bộ phận nhân dân vẫn tiếp tục lấn biển để làm nhà ở và hình thành khu vực Tân Hải (Thanh Hải).

Đặc biệt, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, địch bị thất bại nên đã dùng thủ đoạn "đốt sạch, giết sạch, phá sạch", "tát nước bắt cá" nên một bộ phận dân cư các vùng quê đã bỏ chạy ra sống ở Tân Lập A. Trong đó có đồng bào Hoá Sơn- Hoà Cường. Năm 1972, có một bộ phận nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cũng chạy lánh nạn chiến tranh, vào lập nghiệp ở khu vực Tân Lập A.

Sau tháng 3-1975, quê hương hoàn toàn được giải phóng, thực hiện chủ trương của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, những người dân trước đây chạy lánh nạn chiến tranh ở trên địa bàn phường Thanh Bình lần lượt trở về quê cũ làm ăn, sinh sống. Cùng thời gian đó có nhiều gia đình cán bộ đi tập kết Miền Bắc trở về vàì một số cán bộ hưu trí, cán bộ công nhân viên nhà nước ở các nơi khác cũng về cư trú tại phường Thanh Bình, chính vì thế mà dân cư trên địa bàn phường có sự dao động. (Năm 1976 có 16. 982 người, năm 1977: 15.946 người, năm 1978: 15.624 người). Nhìn chung dân số của phường giảm, nguyên nhân là do sau giải phóng một số lớn hộ dân trở về quê cũ sinh sống và một số khác đi tham gia vùng kinh tế mới .

Từ năm 1997, với đường lối đổi mới của Đảng, thành phố Đà Nẵng đã trực thuộc Trung ương, phường Thanh Bình có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, đã có nhiều người dân đến mua đất làm nhà, mở cơ sở sản xuất ở phường Thanh BÌnh. Dân số ngày càng đông, đến năm 2000 phường Thanh Bình đã có hơn 19.631 người, với 3.415 hộ dân.

Về giao thông: phường Thanh Bình có đường Khải Định (nay là đường Ông Ích Khiêm) chạy ra biển Thanh Bình. Đây là con đường có từ thời Đà Nẵng còn là đất nhượng địa của Pháp. Thực dân Pháp đã mở con đường này để phục vụ việc đi lại, tắm biển, nghỉ mát ở bãi biển Thanh Bình. Đường Khải Định chia phường Thanh Bình ra làm hai: 1/4 diện tích của phường ở phía Tây đường và 3/4 diện tích của phường nằm ở  phía Đông đường.

Phía Tây đường Khải Định có các trục đường chính là  Đinh Tiên Hoàng, Bắc Đẩu và các con kiệt, đường hẻm. Ở phía Đông đường thì có các trục đường chính chạy theo hướng Tây- Bắc là đường Đống Đa, đường Hải Hồ, Thanh Sơn, Thanh Long, Thanh Thuỷ, Thanh Hải, Thanh Duyên. Những con đường chạy theo hướng Nam- Bắc gồm: đường Cao Thắng, đường Gia Long nối dài (nay là đường Lý Tự Trọng), Hải Sơn và nhiều đường kiệt, hẻm,đường liên phường.

Giữa 2 khu phố Xương Bình và Thiệu Bình trước đây có con lạch ngăn cách giữa 2 phường. Con lạch chảy ra sông Hàn và đổ vào vịnh Đà Nẵng. Ngư dân làm biển  theo con lạch để ra biển. Hồ Đầm Rong nằm ở Bình An.

Khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào Đà Nẵng, mở rộng chiến tranh, địch đã tiến hành cải tạo và nâng cấp, đặt tên các tuyến đường như Thanh Sơn, Thanh Thuỷ, Thanh Hải, Thanh Long, Thanh Duyên và phường Thanh Bình đã có sự thay đổi về nhà cửa và đường xá.

Sau năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước và nhân dân đóng góp sức người, sức của từng bước nâng cấp và chỉnh trang các trục đường trên địa bàn phường ngày càng thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân, bộ mặt phường ngày càng khang trang, hiện đại hơn. 

Trong thời kỳ đất nước đổi mới, cùng với sự phát triển đi lên của thành phố Đà Nẵng, tuyến đường Nguyễn Tất Thành đã được xây dựng chạy dọc theo ven biển đã làm thay đổi hẵn bộ mặt của phường Thanh Bình; hướng ra biển Đông, tạo ra sự chuyển biến mới trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng quê hương Thanh Bình ngày càng giàu đẹp.

Về tôn giáo: phường Thanh Bình có 3 cơ sở gồm nhà thờ Giáo xứ Thanh Bình (ở số 24 đường Cao Thắng), Nhà thờ Nội Hà ( ở đường Đinh Tiên Hoàng) và Chùa Thanh Bình (ở số 71 đường Hải Hồ). Đó là những nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của bà con theo đạo. 

Hệ thống trường học ở Thanh Bình gồm có: trường Kỹ thuật Đà Nẵng được thành lập năm 1962, đến năm 1976 đổi tên thành trường Công nhân Kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi; năm 1994 thực hiện Nghị định 32/CP của Chính phủ thành lập Đại học Đà Nẵng, trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Công nghệ, đây là một trong 5 trường thành viên của Đại học Đà Nẵng và là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Trung- Tây Nguyên. 

Các trường phổ thông và mẫu giáo: Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh - nay là trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong nằm ở đường Hải Sơn; trường Tiểu học Trần Thị Lý nằm ở đường Thanh Sơn; trường tiểu học Ông Ích Khiêm - cơ sở I nằm ở đường Ông Ích Khiêm, cơ sở II nằm ở đường Đinh Tiên Hoàng. Trường Mầm non - Măng non nằm ở đường Thanh Sơn và cơ sở 2 của trường nằm trong kiệt trên đường Ông Ích Khiêm - có tên gọi là trường mầm non Hoa Huệ. Ngoài ra còn có một cơ sở mang tên Lớp mẫu giáo tình thương nằm trên đường Thanh Hải.

Trường Văn hoá - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng có từ sau năm 1975, chuyên đào tạo về lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, hàng năm trường đã đào tạo và cung cấp cho thành phố nhiều cán bộ về lĩnh vực này. Đến nay trường đã chuyển về quận Ngũ Hành Sơn.

Về bệnh viện: trước năm 1975, Phường Thanh Bình có Dưỡng đường Terésa. Sau năm 1975 đổi tên thành Bệnh viện quận I - ở số 38 đường Cao Thắng. Bệnh viện này có một đội ngũ y, bác sĩ có trình độ chuyên môn vững, giàu kinh nghiệm, có uy tín trong khám và chữa bệnh, phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó phường còn có một Trạm xá với đội ngũ cán bộ nhiệt tình, chịu khó; Trạm xá phường là nơi trực tiếp tổ chức triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân và các chương trình quốc gia về ytế trên địa bàn: phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng vắc-xin và cho trẻ uống vitamin A; phối kết hợp khám bệnh miễn phí cho nhân dân trong phường và tổ chức truyền thông dân số.

Phường Thanh Bình có nhiều cơ quan, xí nghiệp của Trung ương và của địa phương đóng trên địa bàn; có Khách sạn - nhà nghỉ dưỡng Công đoàn.

Trên địa bàn phường có một chợ gọi là Chợ Thanh Bình, nằm ở đường Ông Ích Khiêm.

Về kinh tế, do đặc điểm của dân cư và điều kiện kinh tế nên sau giải phóng năm 1975,  Uỷ ban nhân dân phường đề ra nhiều giải pháp phát triển sản xuất, nhanh chóng ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm cho người dân. Đảng bộ đã chú trọng phát triển các cơ sở Tiểu thủ công nghiệp, mở mang các ngành nghề truyền thống, các dịch vụ để nhân dân tham gia sản xuất. Cuộc sống người dân từ chỗ chủ yếu sống dựa vào guồng máy phục vụ chiến tranh của Mỹ - nguỵ, nay chuyển sang lao động sản xuất, vừa giải quyết nhu cầu cuộc sống gia đình, vừa làm ra sản phẩm tiêu dùng cho xã hội.

Đặc biệt trong thời kỳ đất nước đổi mới, Đảng bộ, chính quyền đã tạo điều kiện để dân mở mang các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán, dịch vụ nhằm tăng thêm thu nhập; nhiều hộ giàu lên nhanh chóng. Đến năm 2000, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thương nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường ngày một gia tăng, đời sống nhân dân phát triển mạnh.

3. Truyền thống đấu tranh yêu nước:

Mảnh đất Thanh Bình, tiếp giáp với vịnh Đà Nẵng, nơi đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trong đó, đặc biệt là cuộc chiến đấu chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công vào Vịnh Đà Nẵng 1858-1860, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây vào nước ta; và cuộc đổ bộ của quân viễn chinh Mỹ vào vịnh Đà Nẵng tháng 3. 1965, mở đầu cho việc quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam.

 

 

 

Ảnh:
Tàu chiến liên quân Pháp- Tây Ban Nha tấn công vào vịnh Đà Nẵng năm 1858,
mở đầu cuộc xâm chiếm Việt Nam.

  

Ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 28-3-1930 Đảng bộ thành phố Đà Nẵng được thành lập. Xứ uỷ Trung kỳ chỉ định đồng chí Hồ Sĩ Thiều làm Bí thư Đảng bộ thị xã Tourane, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong phong trào đấu tranh cách mạng của Đà Nẵng. Đây là sự kiện lịch sử hết sức quan trọng đối với nhân dân phường Thanh Bình.

Năm 1930 những hoạt động rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, treo cờ đỏ búa liềm và kêu gọi quần chúng đấu tranh chống áp bức bóc lột của đảng viên và một số cơ sở cách mạng trong nội ô Đà Nẵng đã nhanh chóng lan truyền đến những người lao động nghèo ở dọc đường Cường Để (Đống Đa), đường Khải Định (Ông Ích Khiêm)... công nhân, nhân dân lao động nghèo được tuyên truyền các từ mới lạ như "đấu tranh", "bình đẳng", "cách mạng"...

Trong những năm 1936-1939, nhân dân tham gia các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ. Lực lượng thanh niên, học sinh và công nhân nội ô Đà Nẵng xuống đường lên án sự cai trị hà khắc của chế độ thực dân Pháp, đòi tự do, cơm áo.

Trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoà với khí thế hừng hực đấu tranh của nhân dân sống trong nội ô thành phố, nhân dân ở các trục đường chính của Thanh Bình tham gia cùng với đoàn người biểu tình kéo về đình làng Hải Châu và toà Đốc lý Đà Nẵng lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra nhanh chóng, nhân dân lao động đã làm nên điều kỳ tích trong lịch sử dân tộc, đã lật đỗ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân. Nhân dân được đổi đời từ người dân nô lệ thành người làm chủ đất nước, đã tích cực tham gia phong trào chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tham gia tuần lễ Đồng, tuần lễ Vàng...

Sau cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta lần thứ 2, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19-1-1946, nhân dân Thanh Bình đã cùng nhân dân toàn thành phố Đà Nẵng bước vào cuộc chiến đấu mới trực diện với quân xâm lược Pháp.

Một bộ phận nhân dân tham gia thực hiện “vườn không, nhà trống”, đi tản cư vào vùng tự do, thực hiện lệnh hồi cư, xây dựng lực lượng, đưa phong trào du kích chiến tranh vào sào huyệt của kẻ thù. Nhân dân tham gia phục vụ cảnh giới, tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội, du kích, chuẩn bị chiến trường, đưa bộ đội tiếp cận các đồn bót địch trong nội ô Đà Nẵng, phục vụ các trận đánh trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Ngày 20-7-1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của nhân dân ta đã giành thắng lợi

 

CHƯƠNG MỘT

PHONG TRÀO NHÂN DÂN ĐẤU TRANH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954-1975)

 Sau tháng 7-1954 thi hành Hiệp định Giơnevơ, nhân dân 2 miền Nam - Bắc thực hiện lệnh đình chiến, chuyển quân tập kết. Nhưng đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất cẳng Pháp, độc chiếm miền Nam và xây dựng thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Mỹ - Diệm từng bước xây dựng thành phố Đà Nẵng thành căn cứ quân sự hiện đại với đủ các loại quân binh chủng, là căn cứ quân sự lớn thứ 2 ở miền Nam, sau Sài Gòn. Địch đã từng bước mở rộng sân bay, bến cảng, mở mang đường sá ....

Giai đoạn 1954 - 1960, ở khu vực bờ biển Thanh Bình, địch thành lập Uỷ ban định cư xã Thanh Hà, bên dưới có các uỷ ban định cư phụ trách các trại định cư; khu vực Thanh Bình là một trại định cư, sau đó Uỷ ban định cư được đổi tên thành Uỷ ban hành chính khu phố Xương Bình; dưới khu phố Xương Bình có các khóm Bình Sơn, Bình Bắc, Bình Minh, Bình Định, Bình Hải, Nam Hà, Bắc Hà, Tân Lập A, Tân Lập B. Sau đó, có thêm khóm Tân Hoà (sau đổi thành Tân Hải). Trong mỗi khóm, địch thành lập các liên gia, mỗi liên gia khoảng 20 đến 30 hộ, đứng đầu có liên gia trưởng.

Địch xây dựng trụ sở hành chính, Cục cảnh sát Xương Bình trên đường Khải Định, thành lập lực lượng “nhân dân tự vê”û để canh gác, tra xét những người chúng tình nghi.

Chính quyền nguỵ xây dựng trên địa bàn khu phố Xương Bình nhiều cơ quan để phục vụ cho mục đích mở rộng chiến tranh như Trung tâm tiếp liệu (quân cụ) vùng I chiến thuật, Trung tâm tuyển mộ nhập ngũ số 1 (nay là khu dân cư Thanh Sơn 3), cơ quan Tiểu đoàn 10 chiến tranh chính trị (nay là xưởng in Quân khu V), Trại chiêu hồi (nay là xí nghiệp Thảm len Thanh Sơn), Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình (gọi là trại giam B14), cơ quan CIA tại số nhà 10 Thanh Sơn. Địch bố trí gia đình sĩ quan, binh lính nguỵ ở khu gia binh dọc các trục đường Thanh Long, Thanh Sơn, khu vực Tân Lập B. Ở đầu mỗi kiệt hẽm, chúng dựng các trạm gác và phân công lực lượng nhân dân tự vệ canh gác. Địch xây dựng nơi đây thành khu vực an toàn, nơi bất khả xâm phạm, do đó phong trào cách mạng gặp rất nhiều khó khăn.

Tình hình trên đã tạo nên sự biến động về mặt dân cư trên địa bàn phường. Một bộ phận dân cư sống dựa vào việc phục vụ guồng máy chiến tranh của địch, số còn lại hầu hết là dân lao động nghèo thành thị, làm lao động phổ thông; đạp xích lô, bán hàng rong...); phân hoá giàu, nghèo diễn ra nhanh, đời sống của dân nghèo thành thị rất bấp bênh, nhiều gia đình phải lo ăn từng bữa.

Trong thời kỳ này, Mỹ - Diệm chống phá các phong trào cách mạng của ta hết sức ác liệt, đặc biệt là phong trào “tố cộng”, “diệt cộng”. Để chạy lánh những cuộc đàn áp, bố ráp của địch, một số gia đình cơ sở cách mạng và cán bộ ở các vùng quê Hoà Vang, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình và một số tỉnh lân cận chạy ra sống trên địa bàn khu phố Xương Bình để sinh sống,làm ăn. Chính đây là những nhân tố tích cực và là hạy nhân cho phong trào cách mạng ở địa phương sau này. Khu phố Xương Bình lúc này có cơ sở cách mạng tiêu biểu như gia đình ông Hoàng Liễn ở đường Thanh Duyên; gia đình Bà Cứ  ở 98 đường Thanh Thuỷ...

Tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết 15 xác định con đường cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, dựa vào lực lượng quần chúng là chủ yếu, kết hợp vũ trang để đánh đổ đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền của nhân dân. Thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương, phong trào cách mạng có bước chuyển biến mới. Trong những năm 1962-1964, thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm trang bị nhận thức và tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược cho các tầng lớp nhân dân thành phố Đà Nẵng, các đồng chí Hồ Nghinh, Hà Kỳ Ngộ, Lê Công Cơ ...đã tổ chức cuộc họp tại Thanh Trung (Điện Hoà); anh Nguyễn Phúc - cán bộ hoạt động phụ trách Ban Cán sự trí vận đặc khu Quảng Đà và anh Hoàng Hổ - đoàn viên thanh niên giải phóng ở Xương Bình cũng được tham dự. Cuộc họp quyết định thành lập cơ sở in ấn tài liệu cách mạng, đặt ngay tại nhà của anh Hoàng Hỗ (số 34 đường Thanh Duyên) và cũng do chính hai anh Hoàng Hỗ, Hoàng Mai - đoàn viên Thanh niên nhân dân cách mạng Việt Nam phụ trách. Trong 2 năm 1964 và 1965, các anh đã in tài liệu truyền đơn, in tái bản các tập thơ, nhạc - đặc biệt là các bài thơ cách mạng của Tố Hữu như bài "Từ ấy"; tập sách “Sống như anh”... Nguồn tin tài liệu và bài vở chủ yếu do Thành uỷ, Uỷ ban Mặt trận dân tộc giải phóng và Thành Đoàn Đà Nẵng cung cấp. Các tài liệu được phát hành chủ yếu đăng tải các bài viết và phản ánh tình hình đấu tranh sôi sục của nhân dân Đà Nẵng.

Trong không khí sục sôi phong trào cách mạng ở các đô thị lớn, tại bãi biển Thanh Bình, trong giai đoạn này thường diễn ra những buổi hội họp của tổ chức Đoàn thanh niên cách mạng giải phóng, nhằm kết nạp đoàn viên, tổ chức sinh hoạt tuyên truyền nhiệm vụ của Đoàn, hướng cho đoàn viên thanh niên tham gia các phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố.

Trong các cuộc Hội thảo được tổ chức tại Hội trường Trưng Vương vào tháng 5-1964 và ở chùa Tỉnh Hội vào tháng 12-1964, các cán bộ của ta đã phát nhiều tài liệu tuyên truyền cách mạng cho đông đảo quần chúng để truyền tay nhau đọc... Đến cuối tháng 12-1965, do đường dây hoạt động bể vỡ, các anh Nguyễn Phúc, Hoàng Hỗ bị địch bắt và bị giam giữ đến năm 1966 ở tại trại A "Phiến cộng"- vùng I chiến thuật (ở đường Lý Thường Kiệt bây giờ). Tuy các anh bị địch bắt tra tấn tù đày, nhưng vẫn giữ vững khí tiết người cách mạng.

Tháng 10-1967, cấp trên nhập Khu Đông và khu Sông Đà thành quận III, do đồng chí Nguyễn Hữu Nì (Năm Thông) làm bí thư chi bộ N17 (mật danh của chi bộ) và chịu trách nhiệm lãnh đạo địa bàn Đa Phước.ì Khu phố Xương Bình do đồng chí Đặng Nam làm Bí thư, đồng chí Đặng Văn Được (Nguyễn Văn Dư) làm phó Bí thư. Chi bộ đề ra nhiệm vụ là lãnh đạo nhân dân thực hiện phương châm 2 chân- 3 mũi giáp công và xây dựng cơ sở, xây dựng phong trào quần chúng, vận động nhân dân xuống đường đấu tranh chính trị...

Năm 1965, gia đình anh Đặng Văn Bé, là gia đình truyền thống cách mạng, từ Hoà Cường chuyển đến sống tại khu phố Xương Bình, được tổ chức giao nhiệm vụ theo dõi bọn tề nguỵ, xây dựng cơ sở cách mạng nội thành. Tổ ĐặngVăn Bé được ghép với tổ của các đồng chí Huỳnh Hân, Trần Văn Dẩu, Đặng Thống để hoạt động và lấy biệt hiệu là N12, chi bộ phân công đồng chí Huỳnh Hân làm bí thư chi đoàn của khu vực Xương Bình và cùng với anh Đặng Văn Bé và Trần Văn Dẩu hoạt động, nắm tình hình địa phương, vẽ sơ đồ các cơ sở của địch, lập danh sách những tên ác ôn...

Năm 1967, cấp trên giao nhiệm vụ đào hầm bí mật để hoạt động, anh ĐặngVăn Bé bàn với vợ chồng anh Đặng Ngô (Ngò) và chị Phan Thị Sùng quyết định đào hầm bí mật ngay trong nhà ở. Hầm bí mật được đào ngay dưới giường ngủ, đồng thời tại nhà còn chôn giấu nhiều tài liệu cách mạng.

Để chuẩn bị cho hoạt động Xuân 1968, nhóm công tác N12 chuẩn bị biểu ngữ, băng rôn, cờ giải phóng; tổ chức vận động nhân dân xuống đường... nhưng hoạt động quân sự không đủ mạnh nên nhóm N12 có lệnh phải tạm dừng các hoạt động. Tiếp đó, trong đợt hoạt động đánh vào thành phố, gọi là chiến dịch X1, anh Đặng Văn Bé được tổ chức giao nhiệm vụ đón các đồng chí quận uỷ viên về nắm tình hình khu vực Xương Bình, Thiệu Bình, nhằm chuẩn bị kế hoạch mới. Từ tháng 2 đến tháng 5-1968, anh Đặng Văn Bé đã đưa đồng chí Phương Nam về ở hầm bí mật để nắm tình hình trong khu vực. Đêm mồng 4 rạng sáng ngày 5-5-1968, anh Đặng Văn Bé tổ chức ném lựu đạn diệt ác ôn tụ tập, nhưng quả lựu đạn không nổ. Sau sự kiện này, sợ  bị lộ nên tổ chức rút anh Đặng Văn Bé về căn cứ và lấp hầm bí mật, chuyển vũ khí, tài liệu đi nơi khác. Sau đó, ông Đặng Ngô, anh của Đặng Văn Bé bị địch bắt, địch đưa vào Trung tâm thẩm vấn và khai thác nhưng ông chỉ khai rằng Đặng Văn Bé vào Sài Gòn đi lính cho “quốc gia”. 

Tiếp đó, lực lượng biệt động Quận Nhất tấn công đài phát thanh và đánh địch giữa ban ngày tại đoạn đường Đống Đa và ngã ba Cao Thắng. Chị Hoàng Thị Thuỳ Trang (là thành viên của cơ sở cách mạng) được giao nhiệm vụ chuẩn bị trận đánh. Chị Thuỳ Trang thuê một phòng vẽ tại nhà số 38B đường Quang Trung- Đống Đa, cách Đài phát thanh chừng 100m về phía Tây và mở tiệm may, làm nơi tập kết vũ khí và là điểm đứng chân cho các chiến sĩ biệt động. Sau khi các chiến sĩ và vũ khí đã được đưa vào nơi trú quân, đồng chí Nguyễn Đình Sơn- mũi trưởng và đồng chí Phạm Thanh Lâm (Huệ) vào kiểm tra tình hình. Đêm 22-8-1968, các chiến sĩ đang triển khai nhiệm vụ thì bị địch phát hiện, các chiến sĩ nổ súng chiến đấu. Để bảo toàn lực lượng, các chiến sĩ rút theo đường Đống Đa đến ngã ba Cao Thắng thì trời vừa sáng, một số đồng chí được lệnh rút lui, còn lại bốn đồng chí được phân công trụ lại trong nhà dân để chiến đấu. Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng ngày 23-8, bọn địch dùng loa kêu gọi các chiến sĩ ra đầu hàng. Bốn chiến sĩ đã chiến đấu dũng cảm đẩy lùi được 3 đợt tấn công của địch. Đến phút cuối cùng, hai đồng chí Huân và Giao đã hy sinh, còn đồng chí Sơn và đồng chí Long bị thương và kiệt sức, bị địch bắt và  đầy ra Côn Đảo.         

Trong trận đánh này, các chiến sĩ biệt động đã được một số gia đình nhân dân trong khu vực hướng dẫn cho chạy thoát vòng vây địch. Sau này, chính quyền cách mạng đã dựng bia di tích lịch sử về sự kiện này tại ngã tư Quang Trung- Đống Đa Đà Nẵng (cây xăng)

 

Ảnh:
Bia di tích trận đánh của bộ đội vào Đài phát thanh
Đà Nẵng năm 1968, tại cây xăng đường Quang Trung, Đà Nẵng

  

Năm 1969, tại nhà số  47/2 Thanh Sơn (cũ), có anh Lê Viết Tự làm nghề lái xe lam đưa đón khách từ Đà Nẵng về Điện Bàn. Lúc đó đồng chí Nguyễn Tháo - Thường vụ quận uỷ quận Nhất thông qua cơ sở, móc nối với anh Lê viết Tự để liên lạc. Sau khi đồng chí Tháo hy sinh, đồng chí Hoàng Tư Nghĩa tiếp tục giữ liên lạc với cơ sở. Theo tuyến đường đưa đón khách của anh Tự, chị Vương Thị Nhung thường theo xe ra vào thành phố, sau mỗi chuyến công tác, chị mua hàng chở về vùng giải phóng phục vụ kháng chiến. Anh Trương Ngọc Bằng ở trong xóm cũng được móc nối hoạt động, nắm tình hình địch cung cấp cho cán bộ. Anh Lê Viết Tự được các anh Nguyễn Phúc, Vĩnh Linh... hoạt động trong phong trào đấu tranh học sinh, sinh viên Đà Nẵng giao nhiệm vụ móc nối đưa một số cơ sở cách mạng ở Thừa Thiên Huế bị lộ, chạy vào lánh ở Đà Nẵng, rồi tìm cách đưa lên căn cứ. Anh Lê Viết Tự đã đưa một số cán bộ của ta ra vùng giải phóng.

Năm 1970, các anh Nguyễn Phúc, Hoàng Hổ vận động giới trí thức, giáo chức, sinh viên, học sinh Đà Nẵng tham gia cùng nhân dân Đà Nẵng đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Hương, phá các cuộc bầu cử gian lận, vận động thành lập “Mặt trận nhân dân cứu đói miền Trung”, “Uỷ ban đòi cải thiện chế độ lao tù”; vận động quần chúng tham gia “những đêm không ngủ” tổ chức ở nhà thờ cụ Phan Châu Trinh; ở chùa Phổ Đà, chùa Tỉnh Hội. Chị Nguyễn Thị Lâm ở cơ sở huyện Duy Xuyên ra móc nối hoạt động với các anh Hoàng Hổ, Hoàng Chương, Phan Quý, Võ Hội trong phong trào sinh viên học sinh.

Năm 1971, gia đình chị Nguyễn Thị Tố Nga từ Thạc Gián chuyển đến ở tại số nhà 33 Thanh Sơn thuộc khu phố Xương Bình (nay là số nhà 59). Chị Tố Nga, từ năm 1967 làm việc tại nhà máy Điện Đà Nẵng, chị thành lập Ban cán sự mang biệt danh A 400 để hoạt động đơn tuyến trong giới công nhân. Chị bị địch bắt giam, sau khi thả ra, năm 1972 chị được chuyển vào làm việc tại nhà máy điện Hội An. Trong thời gian hoạt động tại Đà Nẵng, chị liên hệ công tác với ông Nguyễn Phúc để nắm tình hình địa phương.

Trước thắng lợi của quân và dân ta, ngày 27 tháng 1 năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 29-3-1973, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ cuốn cờ, rút quân viễn chinh Mỹ về nước. Nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố phá bỏ Hiệp định Pari, tiến hành chiến dịch tràn ngập lãnh thổ. Nhân dân ta tiếp tục kiên trì đấu tranh với địch.

Đến cuối 1974 và đầu 1975, tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường có nhiều thay đổi. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp từ ngày 30-9 đến ngày 7-10-1974, đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975, 1976, Bộ Chính trị còn đề ra phương án nếu thời cơ xuất hiện có thể giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Trong tháng 3-1975 tình hình quân địch ở Đà Nẵng vô cùng hỗn loạn. Ngày 24-3-1975, lực lượng cách mạng giải phóng Tây Nguyên và Tam Kỳ, tiếp đó ngày 25 giải phóng Quảng Ngãi, ngày 26 giải phóng Thừa Thiên- Huế. Tin chiến thắng dồn dập dội về, nhân dân phấn khởi, còn lính địch thì ngày càng hoang mang dao động. Nhân dân các tỉnh chạy dồn về Đà Nẵng, về Quận I và khu phố Xương Bình. Trước tình hình chiến sự của địch vô cùng hỗn loạn, ngày 25-3-1975, đứng đầu chính quyền ngụy là Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ''Tử thủ Đà Nẵng". Nhưng chiến thắng của cách mạng như thế "chẻ tre", địch đã không thể làm gì.

Đến ngày 15-3-1975, anh Lê Viết Tự nhận được lệnh của đồng chí Hoàng Tư Nghĩa chuẩn bị giải phóng thành phố Đà Nẵng. Anh Lê Viết Tự bàn với anh Trương Ngọc Bằng tổ chức lực lượng du kích bí mật làm nòng cốt tuyên truyền nhân dân và vận động nguỵ quân, nguỵ quyền rã ngũ về với gia đình, đồng thời tổ chức tuần tra giữ an ninh trật tự, ngăn ngừa các vụ giết người và cướp của... Các anh đã vận động Khối phố trưởng của Xương Bình - người đang giữ 9 khẩu súng của lực lượng dân vệ nguỵ giao lại để trang bị cho đội du kích mật. Đội du kích được thành lập gồm 18 người, do anh Lê Viết Tự làm trung đội trưởng và anh Trương Ngọc Bằng làm trung đội phó; các anh Dương Phú Kiếm, Mạc Sơn và một số người khác làm nhiệm vụ giữ  an ninh trật tự từ khu vực Xương Bình đến Thiệu Bình.

Lúc bấy giờ ở Đà Nẵng nhân dân các tỉnh chạy lánh nạn chiến tranh đã chiếm các trường học và cơ sở công cộng như chợ ...để làm nơi ăn ở. Riêng trường Kỹ thuật Đà Nẵng có đến mấy trăm hộ dân vào ở. Tin chiến thắng của cách mạng giòn giã từ các chiến trường dội về, đồng bào phấn khởi, chờ mong lực lượng giải phóng vào sớm để tránh đổ máu. Nhân dân truyền miệng cho nhau về thắng lợi của quân giải phóng, làm cho bọn địch thêm hoang mang mất tinh thần và sớm bỏ hàng ngũ để trở về với nhân dân. Lúc này tinh thần binh lính địch vô cùng rối loạn, suy sụp.

Từ ngày 20 đến ngày 29-3-1975, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Tư Nghĩa, đội du kích mật triển khai hoạt động vừa trấn áp bọn phản cách mạng, vừa vận động nhân dân xuống đường lôi kéo binh lính địch rãí ngũ. Khu phố Xương Bình coi như không còn chính quyền. Trụ sở địch bị bỏ trống, nguỵ quyền tháo chạy. Sáng ngày 29-3-1975, trong cảnh quân địch hỗn loạn, quân và dân các khu phố đã xuống đường ở các trục đường chính của Đà Nẵng để đón bộ đội tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng.

Anh Lê Viết Tự và lực lượng đội du kích chiếm cơ quan Chiêu hồi của địch để làm trụ sở hoạt động (nay là xí nghiệp Thảm len Thanh Sơn). Lực lượng du kích nhanh chóng triển khai kế hoạch tuần tra, giữ gìn an ninh trật tự, ngăn chặn nạn cướp giật trên đường phố; thu gom súng, đạn, quân trang, quân dụng của các binh chủng địch vứt bỏ trên đường phố khi tháo chạy, đem về chất thành đống đợi bộ đội vào tiếp quản.

Trong lúc tranh tối tranh sáng, có một tổ chức mang danh nghĩa hoà hợp, hoà giải dân tộc cũng tổ chức đăng ký nguỵ quân, nguỵ quyền, thu vũ khí quân trang, quân dụng. Các anh Lê Viết Tự, Trương Ngọc Bằng báo cáo xin ý kiến của Quận uỷ quận I, đồng chí Trần Hưng Thừa ra lệnh giải tán ngay nhóm hoạt động trên. Lãnh đạo thành phố giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Thị Dục (bà Năm lửîa) và anh Lê Viết Tự về thành lập chính quyền tạm thời để lãnh đạo phong trào. Các đồng chí được giao nhiệm vụ đã chỉ đạo lực lượng giải tán tổ chức trên, nhanh chóng triển khai các biện pháp cấp bách để ổn định tình hình.

Sau ngày 29-3-1975, các đoàn công tác của thành phố xuống tiếp quản Khu phố Xương Bình. Ngày 1-4-1975, Uỷ ban quân quản quận I được thành lập gồm các đồng chí: Lê Công Thạnh- chủ tịch, Lê Văn Huấn và Nguyễn Ngọc Phỉ- phó chủ tịch, Hoàng Tư Nghĩa, Lê Thanh Tân, Võ Đích - uỷ viên.

Uỷ Ban quân quản Quận I triển khai ngay các biện pháp cấp bách kêu gọi binh lính, sĩ quan, nhân viên nguỵ quyền, nguỵ quân ra trình diện và giao nộp vũ khí; thành lập bộ máy chính quyền các cấp; tổ chức cứu đói, cứu đau, ổn định đời sống nhân dân...

Đội công tác của thành phố tăng cường về Khu phố Xương Bình phối hợp với cán bộ cơ sở khẩn trương triển khai các biện pháp cấp bách của Uỷ Ban quân quản quận I; kêu gọi tàn binh địch ra trình diện và giao nộp vũ khí; tổ chức tuần tra canh gác bảo vệ tính mạng tài sản nhân dân, niêm phong các nhà vắng chủ, các kho tàng địch bỏ lại để bảo quản.

Có thể nói Xương Bình (Thanh Bình) là một phường nằm trong nội thành, nơi có nhiều cơ quan đầu não của địch đóng giữ, lực lượng cách mạng mỏng, nhưng cán bộ và cơ sở cách mạng đã nỗ lực công tác, với tinh thần quả cảm, mạnh dạn đã nhanh chóng làm chủ tình hình, góp phần cùng nhân dân thành phố Đà Nẵng giành chính quyền về tay nhân dân.

Chiến thắng lịch sử năm 1975, là sự kiện lịch sử  có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhân dân Thanh Bình, từ đây quê hương không còn chiến tranh, một thời kỳ mới mở ra, thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước. Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách đòi hỏi cán bộ và nhân dân Thanh Bình phải vượt qua.

 

CHƯƠNG HAI

ĐẢNG BỘ PHƯỜNG THANH BÌNH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG CUỘC SỐNG MỚI (1975-1980)

 

 

1. Đảng bộ phường Thanh Bình thành lập, nhanh chóng xây dựng hệ thống chính trị, ổn định cuộc sống nhân dân

Ngày 29-3-1975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng, ngày 30-4-1975 chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kết thúc thắng lợi.        

Nhiệm vụ cấp bách đang đặt ra cho cán bộ và nhân dân phường Thanh Bình là nhanh chóng xây dựng hệ thống chính trị và tổ chức để trấn áp bọn phản cách mạng, thiết lập an ninh chính trị, trật tự xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân.

Sau ngày thành phố Đà Nẵng giải phóng, cán bộ và nhân dân trên địa bàn phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức. Vốn là nơi có nhiều cơ quan, doanh trại, khu gia binh của Mỹ nguỵ và một bộ phận lớn dân cư là quan chức, nguỵ quân nguỵ quyền, các đảng phái; những người phục vụ trong bộ máy quân sự của Mỹ, nguy cũñ. Thành phố Đà Nẵng được giải phóng nhanh nên các lực lượng địch tan rã ngay tại chỗ với đầy đủ các loại vũ khí, về sống trà trộn trong nhân dân, rất nguy hiểm. Các kho vũ khí, bom đạn trong các cơ quan địch bỏ lại trên địa bàn phường chưa ai quản lý. Các phần tử cơ hội, bọn phản động chưa chịu khuất phục đang tìm mọi cách xuyên tạc, gây rối trật tư,û nhằm gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân.

Nhân dân các nơi chạy lánh nạn chiến tranh dồn về khu phố Xương Bình che lều, trại sống tạm bợ trong các khu chợ, trường học, nhà thờ...hết sức phức tạp. Một số gia đình của binh lính và công chức chế độ cũ bỏ nhà cửa chạy vào Sài Gòn. Những gia đình trước đây sống dựa vào đồng lương của chế độ nguỵ quyền nay lo lắng cho cuộc sống, tương lai gia đình và con em họ. Số còn lại là dân lao động nghèo thành thị, việc làm không ổn định, cuộc sống hết sức khó khăn.

Cơ sở hạ tầng của phường nghèo nàn, nhà cửa trong các kiệt hẽm tạm bợ, phần lớn nhà ván lợp tôn. Điện, nước phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Năm 1976, dân số phường Thanh Bình có 16. 982 người[1]. Tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn phường Thanh Bình trong những ngày đầu mới giải phóng diễn biến vô cùng phức tạp.

Sau ngày 29-3-1975, Đặc khu uỷ Quảng Đà đề ra nhiệm vụ trọng tâm của Đà Nẵng: "Trước mắt tiếp tục truy tróc, triệt hạ toàn bộ cơ sở, tổ chức điûch, nhanh chóng ổn định an ninh trật tự, xoá bỏ mọi di tích; tư tưởng phản động, tàn dư xã hội cũ để lại, liên tục phát huy thắng lợi, phát động tư tưởng quần chúng xây dựng chính quyền và lực lượng cách mạng".

Uỷ ban Quân quản Quận I ban hành nhiều chủ trương, chính sách thực hiện. Về mặt hành chính, tháng 7-1975, thực hiện chủ trương chia lại địa giới quản lý hành chính cấp cơ sở, thống nhất tên gọi là phường. Khu phố Xương Bình được đổi thành phường Thanh Bình. Như vậy, đơn vị hành chính phường Thanh Bình được thành lập cùng các phường trong Quận I.

Sau ngày Đà Nẵng giải phóng, để triển khai thực hiện những nhiệm vụ cấp bách của phong trào cách mạng đang đặt ra, Đặc khu uỷ Quảng Đà và Quận uỷ Quận I cử đoàn cán bộ gồm 6 đồng chí về tiếp quản phường Thanh Bình, và bố trí 2 cán bộ ở lại hoạt động tại phường là đồng chí Nguyễn Thị Dục và đồng chí Nguyễn Tân. Tiếp sau đó, Quận uỷ tăng cường đồng chí Nguyễn Thị Bảy về  phường Thanh Bình, và chỉ định làm bí thư chi bộ phường. Ông Hoàng Liễn -  cơ sở cách mạng được cử làm Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân cách mạng lâm thời.

Đến tháng 7-1975, Quận uỷ tăng cường thêm một số cán bộ về phường, chi bộ phường Thanh Bình lúc đó có 7 đảng viên, chi bộ đã tiến hành Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Thị Bảy làm Bí thư, đồng chí Huỳnh Thúc Cẩn - phó Bí thư, đồng chí Phạm Kim Sơn chi uỷ viên, sau đó bầu chủ tịch Uỷ Ban nhân dân cách mạng phường Thanh Bình.

Chi bộ đề ra nhiệm vụ trước mắt cần tập trung lãnh đạo:

- Nhanh chóng ổn định tình hình, giữ gìn an ninh trật tự xã hội; dọn vệ sinh đường phố, phòng chống dịch bệnh; cứu trợ, cứu đói những gia đình khó khăn, những gia đình không nơi nương tựa; nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân; giãn dân ra khỏi thành phố, sẵn sàng đối phó với những âm mưu mới của địch.

- Tổ chức đăng ký quản lý nguỵ quân, nguỵ quyền, phân loại và cho học tập chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; trấn áp những hoạt động móc nối chống phá cách mạng.

- Tịch thu, thiêu huỷ các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động và xoá bỏ các tụ điểm tệ nạn xã hội.  

Thực hiện chủ trương của thành phố, Uỷ Ban quân quản phường Thanh Bình tiến hành truy quét địch, trấn áp những phần tử phản cách mạng giữ gìn trật tự trị an xã hội. Với khẩu hiệu: "Tách súng ra khỏi lính, tách lính ra khỏi sĩ quan", "tập trung sĩ quan, tập trung súng, giãn dân, chuẩn bị đánh Mỹ".

Ngày 3-4-1975, chi uỷ và Uỷ Ban Quân quản phường Thanh Bình tổ chức cho nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện chính quyền cách mạng và giao nộp vũ khí tại trường Kỹ thuật Đà Nẵng (nay là trường Cao đẳng công nghệ  Đà Nẵng).

Số tàn binh địch trên địa bàn phường Thanh Bình rất đông, chỉ riêng khu vực Tân Lập B có 239 binh lính nguỵ, có 9 sĩ quan cấp tá, trong đó có 3 trung tá, 33 sĩ quan từ đại uý đến thiếu tá. Cán bộ phường đã thống kê lập danh sách phân loại sĩ quan, binh lính, nguỵ quyền; kêu gọi tàn quân địch ra trình diện để hưởng chính sách khoan hồng của Đảng; tổ chức các khoá học theo qui định của Uỷ Ban quân quản thành phố. Số hạ sĩ quan và binh sĩ được tổ chức học tập tại địa phương.

Đồng chí Nguyễn Thị Bảy - đại diện chính quyền phường Thanh Bình đã tiến hành tổ chức tuyên truyền các chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, đồng thời nói rõ chiến thắng của quân và dân ta và những chủ trương chính sách khoan hồng của Đảng; phản bác luận điệu xuyên tạc của bọn phản động lúc đó như là "Việt cộng về sẽ có cuộc tắm máu"... Đồng chí động viên tinh thần mọi người cố gắng học tập đường lối chính sách của Đảng, của chính quyền cách mạng, xoá bỏ mặc cảm, chung tay xây dựng quê hương...

Qua học tập chính sách khoan hồng của Đảng, nguỵ quân, nguỵ quyền phấn khởi, xoá bỏ mặc cảm, an tâm học tập, chấp hành các chủ trương của Đảng. Sau đợt học, các đối tượng được về đoàn tụ với gia đình và làm ăn sinh sống như những công dân bình thường khác.

Tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn phường trong những ngày đầu giải phóng rất phức tạp, do nằm sát bãi biển Thanh Bình, một số gia đình nguỵ quân, nguỵ quyền dùng ghe di chuyển ra tàu để di tản vào Sài Gòn và các tỉnh miền Nam, tạo tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân. Lực lượng cách mạng của ta lúc đó còn mỏng và chưa kịp quản lý những cơ sở, kho tàng của địch để lại. Cụ thể như ở số 8 Thanh Sơn, 30 Thanh Long (số cũ), hay trung tâm thẩm vấn của địch..., nên có tình trạng để người vào đập phá, lấy tài sản và vũ khí về tàng trữ sử dụng trái phép. Một số phần tử phản động nơi khác tụ tập về, chúng lợi dụng những ngày đầu giải phóng lực lượng cách mạng của ta chưa kiểm soát chặt, chúng phao tin đồn nhảm, gây mất trật tự xã hội do đó nạn trộm cắp, cướp giật, tệ nạn xã hội diễn biến hết sức phức tạp.

Trước tình hình đó, để đảm bảo tình hình an ninh trật tự và truy lùng các phần tử  xấu đang lẩùn trốn hoặc chưa chịu ra trình diện, chi uỷ của phường đã tổ chức và lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể cùng Đội dân phòng tăng cường tuần tra canh gác trong các khu phố và ven biển Thanh Bình. Cán bộ của ta đã phát động nhân dân tố giác những đối tượng còn lẫn tránh không ra trình diện. Tổ chức thu gom vũ khí, niêm phong các cơ sở và kho vũ khí địch để lại, và đã đã kịp thời ngăn chặn,ì thu hồi lại số vũ khí tại số 8 Thanh Sơn, 30 Thanh Long của Mỹ Nguỵ để lại. Tịch thu và bảo quản tài sản địch bỏ lại như kho tàng, xe máy, nhà cửa vắng chủ...

Uỷ ban nhân dân cách mạng phường Thanh Bình quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, cứu trợ, cứu đói kịp thời cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đời sống của nhân dân lao động nghèo, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ và một số người sống dựa vào sở Mỹ; phục vụ bộ máy địch đã trở nên bấp bênh do chế độ cũ bị sụp đổ; nhiều gia đình rơi vào cảnh thất nghiệp không có việc làm. Cán bộ của ta khi về tiếp quản phường Thanh Bình, do còn mới mẻ, chưa nắm hết tình hình địa phương nên hoạt động khó khăn, nhưng với tinh thần và nhiệt tình cách mạng, họ đã làm việc cả ngày lẫn đêm, không quản khó khăn gian khổ,ü đi đến từng hộ dân thăm hỏi, động viên, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng nhân dân, đồng thời có những biện pháp nhanh chóng ổn định tình hình, giúp đỡ nhân dân vượt qua những khó khăn trước mắt. .

Uỷ Ban nhân dân cách mạng phường đã xuất gaoû cứu đói cho những hộ tản cư, những gia đình khó khăn, những người già neo đơn; vận động nhân dân tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn. Nhiều gia đình đã nhận gạo, sữa, đường do chính quyền cách mạng cung cấp. Nhiều gia đình vượt qua được những khó khăn bước đầu trong cuộc sống. Nhân dân cảm động trước sự giúp đỡ, đùm bọc của Đảng, chính quyền và nhân dân trong phường.

Thực hiện chủ trương giãn dân về lại quê cũ làm ăn, các cán bộ đã đi đến từng hộ gia đình tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, vận động khuyến khích, giúp dân thu dọn nhà cửa, đồ đạc để trở về quê cũ làm ăn sinh sống. Là nhân dân lao động nghèo, do vấn đề phương tiện tàu xe đi lại lúc đó hết sức khó khăn, uỷ Ban quân quản đã tổ chức gặp mặt nhân dân tại trường Kỹ thuật Đà Nẵng, trạm 76 Bộ đội biên phòng (nay là khách sạn Công đoàn) để phát gạo, thực phẩm, hỗ trợ tiền tàu xe, động viên các gia đình trở về quê cũ.

Uỷ ban phường còn phát động chiến dịch dọn vệ sinh làm đẹp đường phố. Các đoàn thể ra quân động viên hội viên, các tầng lớp nhân dân hăng hái thực hiện. Nhân dân thu gom áo quần, giầy, mu,î các sắc lính nguỵ bỏ chạy vứt ngỗn ngang trên các đường phố, ngoài bãi biển; tham gia tổng vệ sinh quét dọn rác, tẩy uế các trường học và những nơi công cộng, xóa bỏ cờ ngụy và các câu khẩu hiệu của địch, thu hủy các sách báo, tranh ảnh đồi trụy.

Nhân dân hăng hái tham gia các phong trào do chính quyền phát động. Đường phố thoáng đãng, sạch đẹp hơn. Các tụ điểm tệ nạn xã hội từng bước được khắc phục, sinh hoạt nhân dân trở lại bình thường, nhân dân phấn khởi tham gia xây dựng đời sống mới.     

Công tác tư tưởng, công tác dân vận được Đảng và chính quyền đặc biệt quan tâm và chú trọng. Đối với gia đình nguỵ quân, nguỵ quyền, cán bộ đi đến từng gia đình thăm hỏi tình hình gia cảnh, tuyên truyền chính sách khoan hồng, hoà hợp dân tộc của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, động viên, khuyến khích họ thực hiện tốt công tác cải tạo, chấp hành các chủ trương chính của Đảng và Nhà nước, yên tâm làm ăn, xây dựng quê hương.

Phường Thanh Bình lúc đó có 30.000 nhân khẩu. Tín đồ trong các tôn giáo có trên 18.000 người, chiếm gần 1/6 dân số của phường. Các tín đồ tôn giáo vui mừng khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhưng cũng có một bộ phận hoang mang trước những tin đồn của kẻ xấu, một bộ phận còn nghi ngờ đường lối, chính sách của Đảng, chính quyền.

Thực hiện đường lối hoà hợp dân tộc của Đảng, Cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị của phường đều tham gia làm công tác dân vận. Cán bộ đi đến từng khu dân cư, vào các nhà thờ, nhà chùa thăm hỏi, giải thích các chủ trương chính sách của Đảng, vận động các chức sắc, tín đồ tôn giáo và nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Tỉnh và Thành phố; xoá bỏ tư tưởng mặc cảm, những tin đồn xuyên tạc của những phần tử xấu để nhân dân yên tâm làm ăn, tham gia thực hiện các phong trào cách mạng, xây dựng cuộc sống mới và với khẩu hiệu sống “tốt đời đẹp đạo”. Ngoài ra còn động viên, thăm hỏi các gia đình Hoa kiều, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, những người dễ bị kẻ xấu kích động, bị lôi kéo để họ yên tâm lo làm ăn.

Công tác dân vận, mặt trận của Đảng bộ phường Thanh Bình được đẩy mạnh và đem lại những kết quả, nhất là công tác xây dựng khối đoàn kết giữa lương và giáo, giữa những người có đạo, và giữa cán bộ với nhân dân.

Mặc dầu sau giải phóng, tình hình an ninh chính trị, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, song chi bộ và chính quyền phường đã nỗ lực, cố gắng quan tâm chỉ đạo công tác giáo dục. Ngay sau giải phóng, chính quyền đã tổ chức thực hiện vận động giáo viên và học sinh ở các trường trên địa bàn phường trở lại hoạt động bình thường. Niên học 1975-1976 được tiếp tục, không bị gián đoạn niên học. Các trường học nhanh chóng được khắc phục sửa chữa, được thu xếp, quét dọn và ổn định về mặt tổ chức cho khai giảng năm học mới. Học sinh các cấp học vẫn nô nức đến trường và được học tập theo chương trình giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, cuối năm 1975, tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, nhằm phát triển công thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, hạn chế sự lũng đoạn, đầu cơ phá rối thị trường của tư sản, tiến hành kiểm kê tài sản những cơ sở buôn bán lớn, quản lý chặt chẽ hàng hoá trên thị trường. Chi uỷ phường Thanh Bình lãnh đạo chính quyền, các ban ngành, đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành và thực hiện tốt chủ trương của Đảng.

Uỷ ban nhân dân cách mạng phường thành lập mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, mở các quầy hàng, thành lập Hợp tác xã mua bán, cung cấp các nhu yếu phẩm và những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống của nhân dân. Buổi ban đầu, các cơ sở hợp tác xã gặp rất nhiều khó khăn từ khâu vốn đến cơ sở vật chất, nhân sự, Ban chủ nhiệm..., nhưng được sự ủng hộ của nhân dân, trong một thời gian ngắn Uỷ ban nhân dân phường đã tìm địa điểm mở các quầy hàng ở các khối phố. Nhân dân tham gia đóng góp vốn cổ phần Hợp tác xã. Mỗi xã viên được cấp một cuốn sổ mua hàng, khẳng định quyền lợi của xã viên trong Hợp tác xã. Hợp tác xã mua bán lấy nguồn hàng từ thương nghiệp thành phố về phân phối lại cho nhân dân theo giá của Hợp tác xã. Ban chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán phường có nhiều sáng kiến mở rộng đại lý bán hàng, kế hoạch hàng năm đều đạt và vượt. Hợp tác xã mua bán có nhiều cố gắng tổ chức đảm bảo những mặt hàng thiết yếu phục vụ nhân dân như: gạo, củi, cá mắm, muối, mỡ, xì dầu, khoai, bắp, sắn... Đây là sự nỗ lực rất lớn của chính quyền cách mạng trong những ngày đầu sau giải phóng.

Cùng với việc triển khai các nhiệm vụ cấp bách, công tác xây dựng bộ máy chính quyền  đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết. Chi bộ đã lãnh đạo chính quyền, mặt trận và các đoàn thể thành lập các hội đoàn thể để hoạt động. Do đặc điểm của phường, việc tìm người đủ tiêu chuẩn vào hệ thống chính trị rất khó khăn. Qua hoạt động thực tiễn phong trào, kết hợp với điều tra nắm tình hình hình ở từng địa bàn, nhiều cán bộ được phát hiện, điều động bổ sung vào làm việc ở các ban, ngành của phường.

Phường Thanh Bình thời gian này thành lập 6 khối phố, và 70 tổ dân phố gồm: Khối Tân Lập A, Khối Tân Lập B, Khối Bình An, Khối Bình Định, Khối Hải Hà, Khối Bình Hải. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường Thanh Bình và các ban, ngành, đoàn thể được thành lập, đi vào hoạt động. Chi đoàn Thanh niên phường Thanh Bình được thành lập với 5 đoàn viên, ông Hồ Quốc Tuấn được chỉ định làm bí thư Chi đoàn. Năm 1976, Chi đoàn tổ chức Đại hội và bầu anh Dương Đăng Cao làm bí thư, anh Hứa Văn Doãn làm phó bí thư. Phong trào hoạt động của Đoàn Thanh niên lúc này cũng gặp rất nhiều khó khăn do lực lượng đoàn viên mỏng, phong trào chủ yếu là hoạt động của Hội Thanh niên làm cơ sở để phát triển đoàn viên.

Hội Phụ nữ phường do chị Mai Thị Liễu và chị Phạm Thị Minh phụ trách. Các thành viên đi đến từng gia đình vận động phụ nữ tham gia Hội Phụ nữ, và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 1976, Hội Phụ nữ tổ chức Đại hội lần thứ nhất, bầu Ban Chấp hành gồm 11 người, do chị Mai Thị Liễu làm hội trưởng, chị ì Phạm Thị Minh hội phó.

Ngày 25-4-1976, cùng với nhân dân thành phô Đà nẵngú, nhân dân phường Thanh Bình nô nức tham gia bầu cử Quốc hội khoá VI, đây là lần đầu tiên nhân dân cầm lá phiếu của cử tri, tự do lựa chọn người có đức, có tài vào các cương vị lãnh đạo đất nước; điều đó đã thể hiện được quyền tự do, dân chủ của người dân trong một đất nước được độc lập, tự do. Tại phiên họp đầu tiên từ ngày 24-6 đến ngày 2-7-1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Quốc hội quyết định tổ chức chính quyền 4 cấp, trong đó cấp phường (xa)î là đơn vị hành chính thấp nhất. Sau bầu cử, hệ thống chính quyền được củng cố lại, bầu lại Ban nhân dân khối phố và lựa chọn những cán bộ tâm huyết đảm trách công việc.

Năm 1976, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Trung ương Đảng về thăm nhân dân Đà Nẵng, đồng thời ghé thăm trường Công nhân Kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi. Nhân dân địa phương cũng như các đoàn thể và các lực lượng của phường Thanh Bình, cácì cán bộ công nhân viên và học sinh, sinh viên nhà trường cũng rất hăng hái tham gia công tác chuẩn bị đón tiếp. Lực lượng công an, bộ đội, dân phòng tăng cường tuần tra, kiểm soát đảm bảo công tác an ninh trật tự. Cuộc đón tiếp đồng chí Tổng Bí thư diễn ra trong không khí trang trọng và an toàn. Đồng chí Tổng Bí thư đến thăm đã tạo được sự phấn khởi, niềm tin tưởng và động viên rất lớn tinh thần cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phường Thanh Bình hăng hái tham gia lao động, sản xuất và học tập nhằm xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc.

  

 

 

Ảnh:
Đồng chí Lê Duẩn-Tổng bí thư về thăm trường Công nhân Kỹ thuật
Nguyễn Văn Trỗi, năm 1976

 

Hưởng ứng chủ trương của thành phố Đà Nẵng, Uỷ ban nhân dân cách mạng phường Thanh Bình cùng với các đoàn thể tổ chức thanh niên đi lao động xã hội chủ nghĩa, giúp nhân dân các vùng quê khai phá đất hoang, đắp đập, đào mương làm thuỷ lợi, tham gia lao động sản xuất trên các đồng ruộng ở Điện Bàn, Duy Xuyên...; tham gia ngày công lao động xã hội chủ nghĩa để xây dựng Công viên 29-3 của thành phố Đà Nẵng, xây dựng hồ chứa nước Phú Ninh và nghĩa trang liệt sĩ... Hàng ngàn thanh niên Phường Thanh Bình hăng hái tham gia lao động, đóng góp ngày công trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại quê hương.

Uỷ ban nhân dân phường vận động và tổ chức cho nhân dân đi xây dựng khu sản xuất ở Ba Viên (Hoà Ninh), đi kinh tế mới ở Buôn Chua, Buôn Tráp (Đắc Lắc). Cán bộ lãnh đạo phường đã đi tiền trạm, lên địa điểm xây dựûng kinh tế mới để liên hệ với chính quyền địa phương nơi đó chuẩn bị địa điểm, lo chỗ ăn chỗ ở cho nhân dân; lo vật liệu làm nhà và vận chuyển lương thực, thực phẩm để hỗ trợ nhân dân trong những ngày tháng đầu khai phá đất canh tác. Chi bộ và các ban ngành đoàn thể thực hiện tốt công tác thăm hỏi động viên các gia đình trong diện đi xây dựng kinh tế mới. Lực lượng đoàn viên thanh niên và dân quân tự vệ của phường đã đóng góp rất nhiều công sức, thậm chí có cả trường hợp phải hy sinh. (trường hợp anh Đoàn Đức đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ lao động xã hội chủ nghĩa trên công trường tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

2. Đảng bộ phường Thanh Bình lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân.

Năm 1977, qua hơn 2 năm hoạt động, phong trào cách mạng của phường Thanh Bình ngày càng vững mạnh, đội ngũ cán bộ tăng lên về số lượng, nâng lên về chất lượng. Chi bộ phường Thanh Bình trưởng thành, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác, có 34 đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng đang đặt ra, căn cứ theo điều lệ Đảng qui định, Chi bộ phường Thanh Bình có công văn đề nghị Quận uỷ quận I cho chuyển chi bộ phường thành Đảng bộ phường và tiến hành tổ chức Đại hội Đảng bộ. Được sự chuẩn y của Quận uỷ quận I, ngày 18- 4-1977, chi bộ phường Thanh Bình tiến hành Đại hội Đảng bộ phường lần thứ nhất. Đây là sự kiện hết sức quan trọng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phường. Đại hội kiểm điểm tình hình thời gian qua và đề ra nhiệm vụ nhiệm kỳ đến:

- Tập trung xây dựng Đảng, bộ máy chính quyền, đoàn thể vững mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ của cách mạng đặt ra.

- Chú trọng lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp để thu hút lao động; giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân.

- Tăng cường công tác tuần tra canh gác, xây dựng lực lượng dân phòng, đảm bảo tình hình an ninh và trật tự xã hội trên địa bàn phường.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 7 đồng chí, đồng chí Nguyễn Thị Bảy làm Bí thư, đồng chí Huỳnh Thúc Cẩn làm phó Bí thư  và phụ trách dân vận, đồng chí Phạm Kim Sơn là ủy viên thường vụ đảng uỷ, được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.

Đảng bộ có 4 chi bộ với 54 đảng viên. Các chi bộ đã tiến hành đại hội chi bộ khối phố. Chi bộ khối phố Hải Hà có 22 đảng viên, Chi bộ Bình An có 12 đảng viên, chi bộ Tân Lập A có 11 đảng viên và Chi bộ Tân Lập B có 9 đảng viên.

  

Ảnh:
Các đồng chí Bí thư Đảng bộ
phường Thanh Bình từ năm 1975 đến 2005       

 

Sau Đại hội, công tác xây dựng Đảng được đặt lên hàng đầu, Đảng bộ tập trung giữ sinh hoạt đảng định kỳ, nội dung sinh hoạt đảm bảo 3 tính chất: tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng và quan tâm đối với số đảng viên trẻ, đảng viên là nữ có năng lực. Đảng bộ cũng luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết nội bộ, duy trì việc tự phê bình và phê bình, phân công công tác để rèn luyện đảng viên. Đảng uỷ Phường còn tổ chức quán triệt học tập cho cán bộ, đảng viên về luật bầu cử hội đồng nhân dân các cấp và lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; quán triệt tình hình và triển khai nhiệm vụ mới; thông tin về kết quả của 2 cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đề cao cảnh giác cách mạng.

Đảng bộ coi trọng việc tổ chức học tập các nghị quyết của Đảng. Thường xuyên tổ chức học nghị quyết của Đảng trong chi bộ và quán triệt đến các đoàn thể, mặt trận và chính quyền để tuyên truyền, triển khai thực hiện trong nhân dân đạt kết quả. Các chi bộ Đảng làm tốt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là trong việc góp ý phê bình cán bộ, đảng viên.

Về xây dựng chính quyền, cán bộ Uỷ ban nhân dân cách mạng phường, các ban đại diện chính quyền ở từng khối phố đã hoạt động tích cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, nhanh chóng ổn định tình hình an ninh trật tự xã hội và tổ chức cuộc sống cho nhân dân. Tháng 4.1976, Uỷ ban nhân dân tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp phường, quận, thành phố, tiến đến bầu cử Quốc hội trong cả nước. Cuộc bầu cử diễn ra an toàn và đạt kết quả tốt.

Sau bầu cử, hệ thống chính quyền được củng cố. Ban Nhân dân khối phố đã chọn được những cán bộ tâm huyết với công việc. Dưới các khối phố có các tổ dân phố. Lúc ban đầu chọn cán bộ làm tổ trưởng, tổ phó dân phố rất khó vì chính quyền mới còn chưa nắm rõ được từng người, nên phải thăm dò và chọn lọc để giao việc.      

Đồn công an phường Thanh Bình do tình hình thiếu cán bộ, nên sau giải phóng năm 1975, đồng chí Đoàn Hữu Hà được phân về làm đồn trưởng nhưng phụ trách chung cả 2 phường Thanh Bình và Thuận Phước. Đến năm 1979 thì tách riêng thành 2 đồn:  công an phường Thanh Bình và công an phường Thuận Phước. Và đồng chí Hà làm đồn trưởng công an Thanh Bình từ đó.

Uỷ ban nhân dân phường đã chọn những thanh niên hăng hái tích cực tham gia các hoạt động phong trào, và những thanh niên có lý lịch trong sạch để xây dựng trung đội dân quân tự vệ tập trung. Mỗi khối phố lập một tiểu đội dân quân tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ thường trực ở phường và lực lượng ở các khối phố đủ số lượng, đảm bảo chất lượng.

Trên địa bàn phường lúc này còn có một số đơn vị vũ trang như Tiểu đoàn 1 bộ binh, tiểu đoàn 555, trạm 76 bộ đội Biên phòng đóng giữ triển khai nhiệm vụ được giao. Lực lượng dân quân tự vệ lúc này phối hợp với các đơn vị vũ trang này tổ chức vận động nguỵ quân, nguỵ quyền còn lẫn trốn ra trình diện; phối hợp tuần tra giữ gìn an ninh trật tự, tiếp quản các kho tàng. Ban đêm, các lực lượng thường xuyên tuần tra, canh gác, đặc biệt là khu vực bãi biển Thanh Bình.

Phường Đội Thanh Bình luôn đảm bảo số lượng giao quân hàng năm, thanh niên trúng tuyển hăng hái lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Tháng 1-1977, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Thanh Bình tổ chức Đại hội lần thứ I, bầu ông Hoàng Văn Trà làm chủ tịch và ông Huỳnh Thúc Cẩn làm phó chủ tịch. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Thanh Bình tổ chức Đại hội lần thứ II vào cuối năm 1977: bầu ông Huỳnh Thúc Cẩn làm chủ tịch, ông Nguyễn Quyết Chiến làm phó chủ tịch. Uỷ ban mặt trận phường đã tích cực hoạt động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân,  động viên cán bộ, nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn.

Năm 1977, Hội Liên hiệp Phụ nữ phường tổ chức Đại hội lần thứ II, bầu Ban Chấp hành gồm 11 chị. Chị Mai Thị Liễu làm hội trưởng, chị Phạm Thị Minh làm hội phó. Hội Phụ nữ phường duy trì nề nếp sinh hoạt định kỳ và đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động cuả Hội. Hội đã động viên hội viên tham gia tích cực các phong trào do Hội Liên Hiệp Phụ nữ thành phố phát động.

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường trong buổi đầu đã biết dựa vào lực lượng dân quân tự vệ phường và dân quân tự vệ ở các khối phố để làm nòng cốt. Thông qua các hoạt động phong trào, dân quân tự vệ phát hiện quần chúng tích cực đẻ kết nạp vào tổ chức Đoàn. Đoàn phường đã tổ chức thành lập các phân chi hội ở các khối phố và qua đó làm tốt công tác tổ chức sinh hoạt và tập hợp được thanh niên; phát động các phong trào lao động công ích, tham gia lao động xã hội chủ nghĩa ở các công trường. Qua sinh hoạt đoàn những bài hát truyền thống cách mạng, ca ngợi Đảng, ca ngợi Hô Chủ Tịch và tình yêu quê hương đất nướcö được lan tỏa, dấy lên khí thế vui tươi, sôi nổi và nhiệt tình của tuổi trẻ được nâng lên. Năm 1978, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường Thanh Bình tiến hành Đại hội lần thứ I, bầu anh Hứa Văn Doãn làm bí thư và anh Lê Văn Đồng làm phó bí thư.

Hệ thống lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể phường được củng cố, hoàn thiện. Cán bộ các cấp, các ngành tham gia làm tốt công tác tôn giáo vận; xây dựng cơ sở nòng cốt trong giáo dân để vận động triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và nhà nước. Thực hiện khẩu hiệu “Kính chúa yêu nước”, “sống tốt đời, đẹp đạo”... Cán bộ của ta thường gặp gỡ, biểu dương giáo dân, động viên linh mục thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tổ chức thăm hỏi, chúc mừng những ngày lễ trọng của các tôn giáo, ngày lễ bổn mạng của giáo xứ, linh mục. Xây dựng mối quan hệ cởi mở thân thiện, cùng giáo dân đi thăm các vị linh mục khi đau ốm. Đảng bộ xây dựng tốt mối quan hệ giữa chính quyền, Mặt trận với Hội đồng giáo xứ, Ban đại diện Phật giáo, do đó vấn đề đoàn kết giữa lương giáo có nhiều chuyển biến tốt.

Sự gắn bó của cán bộ, đảng viên với các cơ sở và tín đồ tôn giáo đã tạo sự gần gũi, cảm thông, xây dựng mối đoàn kết thân ái giữa người có đạo và không có đạo trên địa bàn phường. Công tác dân vận- mặt trận của Đảng bộ phường Thanh Bình đã góp phần trong việc ổn định tình hình an ninh chính trị trên địa bàn phường. Với sự thành công nổi bật trên, Đảng bộ phường Thanh Bình được Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng chọn cử đi dự Hội nghị tôn giáo vận khu vực miền Trung, tổ chức tại thành phố Qui Nhơn (Bình Định), và được báo cáo kết quả về công tác tôn giáo vận của Đảng bộ phường tại Hội nghị.

Đầu năm 1978, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta. Lực lượng công an, an ninh tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đã phát hiện nhiều tổ chức phản động như “Dân quân phục quốc”, “Việt Nam Cộng hoà”, “ Hắc Long Đoàn”, “Biệt Đoàn Quảng Đà”, “Việt Nam Dân tộc cách mạng đảng”... đang nhen nhóm hoạt động, tìm cách tập hợp lực lượng phá hoại sự nghiệp cách mạng. Ở phường Thanh Bình, công an phát hiện nhiều tên tham gia hoạt động trong các tổ chức trên. Chúng tìm cách móc nối đưa người vượt biên trái phép ra nước ngoài, gây tâm trạng bất an trong nhân dân, làm tình hình an ninh chính trị trên địa bàn phường Thanh Bình và một số phường ven biển thành phố Đà Nẵng trở thành những điểm nóng về an ninh trật tự. Trước tình hình đó, tháng 8-1978 Tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng và thành phố Đà Nẵng tăng cường về phường Thanh Bình các đồng chí: Phan Văn Nghệ, Nguyễn Công Toản, Lê Văn Tám, Trần Đình Cảnh, tiếp theo là đồng chí Nguyễn Văn Bê về làm phường đội trưởng Thanh Bình. Sau khi nhận nhiệm vụ, các đồng chí đã cùng Đảng bộ phường Thanh Bình lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ đang đề ra.

Ngày 10-11-1978, tại địa điểm nhà trẻ Hoa Huệ, Đảng bộ phường Thanh Bình tiến hành Hội nghị giữa nhiệm kỳ. Hội nghị kiểm điểm tình hình thời gian qua và bổ sung một số vấn đề thực hiện trong thời gian đến. Ban Chấp hành Đảng bộ được kiện toàn gồm 9 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Thị Bảy làm bí thư, đồng chí Huỳnh Thúc Cẩn làm phó bí thư và đồng chí Võ Cường - uỷ viên thường vụ, sau đó đồng chí Võ Cường được bầu làm Chủ tịch uỷ ban nhân dân. [1]

Sau Đại hội, Đảng bộ tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho nhân dân. Xuất phát từ đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của phường, Đảng bộ chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo hướng hợp tác xã và tổ hợp tác lao động. Uỷ ban nhân dân phường động viên nhân dân khắc phục khó khăn, phục hồi các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mở mang sản xuất. Ngư dân được ngân hàng hỗ trợ vốn mua sắm ngư lưới cụ, hùn vốn đóng ghe, thuyền, mở rộng ngư trường đánh bắt hải sản.

Thực hiện đường lối kinh tế của Đảng, từ đầu năm 1977, Uỷ Ban nhân dân phường chỉ đạo xây dựng nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã như: Hợp tác xã giấy Trường Sơn, Hợp tác xã mây tre, hợp tác xã sửa chữa tàu thuyền đánh bắt và chế biến hải sản, tổ hợp sản xuất bàn chãi đánh răng, hợp tác xã cơ khí sản xuất phụ tùng xe đạp, tổ hợp tác thêu ren, tổ hợp tác mành trúc, tổ hợp tác chế biến hải sản, tổ hợp tác xay xát...

Với sự năng nổ, nhiệt tình của cán bộ và tinh thần hăng hái làm ăn tập thể của nhân dân, các tổ hợp tác nhanh chóng đi vào hoạt động. Các tổ hợp tác ra đời đã tạo ra nét mới trong đời sống kinh tế của người dân, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập. Chính từ trong lao động sản xuất đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống trước đây, từ chỗ phần lớn người dân sống chủ yếu dựa vào việc phục vụ bộ máy chiến tranh của Mỹ nguỵ, nay chuyển dần sang lao động sản xuất... Các hợp tác xã mở ra đẫ dần thu hút số lao động không có công ăn việc làm, sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng góp phần giải quyết tình hình khan hiếm trên thị trường. Cuộc sống của một bộ phận nhân dân được ổn định.

Để phát triển sản xuất, Ủy ban nhân dân xây dựng các nguồn quĩ  tín dụng cho nhân dân vay, động viên nhân dân bỏ vốn ra sắm công cụ, mua nguyên liệu để sản xuất, nhờ đó đã thu hút ngày càng đông nhân công, giải quyết được số lao động dôi thừa, tạo thêm nguồn thu nhập cho nhân dân. Kết quả bước đầu đạt được đã góp phần ổn định một phần đời sống nhân dân. Ngoài những tổ hợp, hợp tác xã sản xuất tập thể, các ngành nghề thủ công truyền thống như làm bánh tráng, làm bún... cũng được khôi phục, tạo thêm công việc làm cho nhân dân.

Các cơ sở sản xuất phát triển mạnh, tương đối toàn diện như cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến, lương thực, ăn uống, hàng tiêu dùng, sửa chữa cơ khí. Trước năm 1975, phường Thanh Bình không có một cơ sở sản xuất nào, đến năm 1981, toàn phường đã có 12 tổ hợp tiểu thủ công nghiệp và 1 hợp tác xã mua bán. 

Trong điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn do thiếu nguyên liệu, vật tư,  điện;  lúc có điện thì không đủ có nguyên liệu để gia công, sản xuất ... có cơ sở phải tạm nghỉ cả tháng; thành phố lại còn giao thêm chỉ tiêu cho các cơ sở sản xuất... Trước tình hình đó, Đảng bộ phường Thanh Bình đã lãnh đạo đề ra các biện pháp khắc phục đẩy mạnh sản xuất như tiến hành kiện toàn các ban quản trị và củng cố bổ sung lực lượng lao động, các tổ khai thác nguyên liệu, vật tư, huy động thêm vốn, bố trí lao động hợp lý. Nhờ đó, các cơ sở sản xuất đã đảm bảo chủ động cả về vật tư, nhân công, việc hoạt động sản xuất trên địa bàn phường được thuận lợi.

Gắn liền với sản xuất, phường động viên cán bộ, nhân dân thực hành tiết kiệm và tham gia lao động xã hội chủ nghĩa, đóng góp xây dựng quĩ, xây dựng trường học, nuôi tự vệ, viện trợ nhân dân Campuchia và giúp 6 tỉnh biên giới phía Bắc.

Trong năm 1980, mặc dầu phường gặp khó khăn về nguyên liệu, điện và tiền mặt nhưng với sự nỗø lực của toàn dân, lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp của phường đã thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra.

Về giáo dục, mặc dầu cơ sở trường lớp còn nhỏ bé nhưng trên địa bàn phường đã hình thành hệ thống trường phổ thông cơ sở, tiểu học rất thuận lợi cho việc học tập của con em trong phường. Đội ngũ giáo viên cũ bị phân tán, nhiều người hồi cư về quê, một số chuyển đi nơi khác, nhưng chính quyền và ngành giáo dục động viên kêu gọi và giúp đỡ động viên giáo viên bám lớp, bám trường. Từng bước, chính quyền tỉnh, thành phố và sở Giáo dục đã kịp thời quan tâm bổ sung thầy cô giáo làm quản lý và giảng dạy về các trường. Với sự cố gắng của chính quyền thành phố và Đảng bộ phường, các trường trên địa bàn nhanh chóng ổn định và triển khai chương trình học mới cho học sinh. Hệ thống nhà trẻ - mẫu giáo của phường trên cơ sở đề nghị của phường đã được cấp trên quan tâm cho phép sử dụng những cơ sở cũ và nhà vắng chủ để sửa chữa lại làm nhà nuôi dạy trẻ.

UBND phường thành lập Ban bình dân học vụ, động viên thanh niên, cán bộ tham gia các lớp dạy và học ban đêm. Phường tổ chức nhiều lớp học bổ túc văn hoá xoá mù chữ cho hàng trăm thanh niên chưa biết đọc biết viết, nhiều các me,û các chị, những ông bà lớn tuổi ban ngày lao động sản xuất, ban đêm cũng cố gắng ra lớp để học chữ; nêu gương học tập của Bác Hồ để góp phần xây dựng cuộc sống mới. Đến năm 1980,  các lớp học Mẫu giáo, tiểu học, phổ thông cơ sở, bổ túc văn hoá đi vào nề nếp, trong đó khó nhất là duy trì các lớp bổ túc văn hoá ban đêm, nhưng các ngành vẫn tích cực duy trì thường xuyên.

Tháng 2-1980, thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ phường Thanh Bình cùng với nhà thờ tổ chức làm lễ rước đuốc Bác Hồ hết sức trang trọng, thể hiện sự đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương và giáo. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chỉ có phường Thanh Bình tổ chức rước đuốc Bác Hồ vào trong nhà thờ, đây là sự thành công lớn trong chính sách tôn giáo vận của Đảng bộ phường Thanh Bình.  

Để phục vụ công tác thông tin thời sự và nâng cao đời sống văn hoá nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường lắp đặt hệ thống loa truyền thanh đến các khu vực. Ở các khối phố đều có hệ thống loa để tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng. Nội dung chương trình phát thanh luôn được cải tiến nâng cao chất lượng.

Đảng uỷ phường quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Sau ngày giải phóng Phường đã trưng dụng cơ sở y tế cũ, sửa chữa nâng cấp làm trạm xá khám chữa bệnh cho nhân dân. Tại bệnh viện Têrêsa, nhiều bệnh nhân còn nằm lại những ngày sau giải phóng, chính quyền quận Hải Châu và phường Thanh Bình xuống thăm hỏi động viên tinh thần đội ngũ y bác sĩ, và bệnh nhân đang còn nằm điều trị. Nhiều gương y bác sĩ trong khám chữa bệnh thật cảm động. Họ vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ của người thầy thuốc trong những hoàn cảnh bệnh viện có sự thay đổi lớn. 

Đội ngũ cán bộ trạm xá phường cũng nhiệt tình công tác, có nhiều sáng kiến xây dựng tủ thuốc Tây, kết hợp Đông y phục vụ tốt trong việc chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân. Trạm đã sử dụng Đông tây y kết hợp trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.  Ở mỗi khối phố đều xây dựng tủ thuốc, có người phụ trách kết hợp với Hội chữ thập đỏ hoạt động để khám chữa bệnh cho nhân dân.

Công tác vệ sinh phòng bệnh được cán bộ y tế chú trọng, đặc biệt là đối với các công trình hố xí, giếng nước, nhà tắm, hố rác...và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện 4 diệt: “diệt chuột, diệt ruồi, diệt muỗi, diệt rệp”. Phong trào vận động sinh đẻ có kế hoạch lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn, nhân dân chưa quen và chưa hiểu hết lợi ích của cuộc vận động, do nếp nghĩ từ trước còn lại nên nhiều người không thực hiện. Các cán bộ đã kiên trì đi đến từng gia đình, gặp từng người dân giải thích..., dần dần nhân dân biết được lợi ích của công tác kế hoạch hoá gia đình và tự nguyện tham gia, số người có 2 con trở lên tham gia đặt vòng ngày càng đông. 

Phong trào thể dục thể thao được phát động và nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Phong trào thể dục của các bậc cao niên trong phường được duy trì thường xuyên, tỉ lệ người dân tham gia tập thể dục ngày càng tăng.

Công tác bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang được Đảng bộ đặt lên hàng đầu. UBND phường bổ sung những thanh niên tích cực tham gia hoạt động vào trung đội dân quân tự vệ tập trung của phường. Lực lượng dân quân tự vệ tiếp tục làm nhiệm vụ tuần tra giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Lực lượng thường trực  và lực lượng tự vệ khối phố đủ số lượng, đảm bảo chất lượng do đồng chí bí thư Đảng bộ trực tiếp phụ trách. Ban đêm anh em thường xuyên tuần tra, canh gác trên địa bàn phường, chú trọng việc canh gác ven bờ biển Thanh Bình.

Phường Đội đã làm tốt công tác quản lý hồ sơ thanh niên trong độ tuổi thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự, hàng năm tổ chức cho thanh niên khám sức khoẻ phục vụ việc xét tuyển nghĩa vụ quân sự, những thanh niên được trúng tuyển đều hăng hái lên đường tham gia bảo vệ Tổ quốc. Trong thời gian chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc nổ ra, phường đội đã động viên thanh niên lên đường tham gia, thực hiện đầy đủ quân số theo qui định của thành phố. Phường đội còn xây dựng một đại đội dân quân tự vệ cơ động được trang bị vũ khí và phương tiện hoạt động, một đại đội tại chỗ, một đại đội phòng cháy, chữa cháy, một trung đội cứu thương.

Hàng năm, lực lượng vũ trang được tổ chức huấn luyện từ 10 - 15 ngày, kết quả các đợt huấn luyện đều đạt chất lượng tốt, tỉ lệ đạt khá giỏi tăng. Lực lượng tham gia đã làm tốt công tác bám biển, tuần tra bảo vệ anh ninh địa phương.

Tháng 10-1979, Đảng bộ phường tiến hành Đại hội lần thứ II, Đại hội  bầu Ban Chấp hành gồm có 9 người, do đồng chí Phan Văn Nghệ làm Bí thư, đồng chí Huỳnh Thúc Cẩn - phó bí thư, phụ trách Dân vận Mặt trận, đồng chí Nguyễn Công Toản - phó Bí thư, kiêm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.        

Trong thời gian này các thế lực thù địch ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta, chúng gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam bị dụ dỗ, cưỡng ép “di tản”. Đất nước ta vừa có hoà bình, lại vừa lo đối phó với chiến tranh.

Ngày 5-3-1979, Thành uỷ tổ chức mittinh tại sân vận động Chi Lăng Đà Nẵng phản đối hành động xâm lược của các thế lực thù địch, hưởng ứng chủ trương của thành phố, cán bộ và nhân dân phường Thanh Bình hăng hái tham gia cuộc mittinh đẻ tỏ rõ thái độ phản ứng, lên án hành động của các thế lực thù địch.

Hưởng ứng lời kêu gọi ngày 4-3- 1979 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và lệnh tổng động viên ngày 5-3-1979 của Chủ tịch nước, Đảng bộ phường Thanh Bình lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể và nhân dân triển khai thực hiện những nhiệm vụ cấp bách của Trung ương Đảng và Thành uỷ Đà Nẵng, tham gia lập tuyến phòng thủ dọc theo ven biển Thanh Bình đề phòng địch đổ bộ theo đường biển. Nhân dân hăng hái đóng góp cây gỗ, cọc tre, dây thép gai; tham gia chặt cây, gánh đất làm hàng rào bảo vệ, chống địch xâm nhập. Các hội đoàn thể Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ... đi đầu trong công tác tuyên truyền vận động, làm gương để nhân dân làm theo.

Tuyến phòng thủ ven biển phường Thanh Bình được xây dựng vừa góp phần giữ gìn an ninh trật tự trên bãi biển, vừa chống vượt biên, vượt biển trái phép. Hàng đêm, lực lượng vũ trang phường tổ chức tuần tra canh gác nghiêm ngặt, túc trực 24/ 24 giờ. Lợi dụng thời cơ này, bọn thù địch trong nước tìm cách móc nối nhau, câu kết với bọn phản động nước ngoài tuyên truyền nói xấu chế độ, lôi kéo người vượt biên, vượt biển trái phép, làm cho tình hình trên địa bàn phường Thanh Bình càng thêm phức tạp. Trước tình hình đó, Đảng uỷ lãnh đạo chính quyền, cơ quan nội chính và đoàn thể phối hợp phân công xuống các địa bàn để nắm tình hình, dựa vào nhân dân phát hiện và ngăn chặn việc tổ chức vượt biên vượt biển, nhờ đó hạn chế được số vụ vượt biển trốn ra nước ngoài.  

Trước tình hình đất nước vừa có chiến tranh vừa có hoà bình, việc động viên thanh niên lên đường nhập ngũ gặp nhiều khó khăn, các đoàn thể tích cực vận động con em đăng ký khám sức khoẻ thực hiện luật nghĩa vụ quân sự. Nhiều thanh niên phường Thanh Bình hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Giai đoạn 1975- 1980, là giai đoạn đầy khó khăn, thử thách đối với Đảng bộ phường Thanh Bình. Một địa bàn trọng yếu, giáp biển, nhân dân các nơi tụ tập về khá đông, an ninh chính trị phức tạp, nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của Quận uỷ, Thành uỷ, Đảng bộ phường Thanh Bình nhanh chóng ổn định tình hình an ninh chính trị- trật tự xã hội, xây dựng tổ chức bộ máy lãnh đạo của phường, khắc phục hậu quả chiến tranh, sớm ổn định cuộc sống người dân, góp phần cùng thành phố thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng  đặt ra.

  

CHƯƠNG BA

ĐẢNG BỘ PHƯỜNG THANH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ, CHĂM LO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN, GIỮ VỮNG AN NINH CHÍNH TRỊ (1980-1985)

Bước vào năm 1980, đất nước ta gặp nhiều khó khăn. Hậu quả chiến tranh biên giới để lại rất nặng nề. Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, những mặt hàng nhu yếu phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm, xà phòng, vải, nhiên liệu xăng dầu... rất khan hiếm.

Ngày 23-6-1980, Bộ Chinh trị ra nghị quyết 26 về “Cải tiến công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” (thường gọi là Chỉ thị 100). Chỉ thị 100 là cột mốc mở đầu sự thay đổi hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán theo nhóm và người lao động. Tình hình trên đã tác động, làm cho nông dân hăng hái lao động, nhờ đó nguồn lương thực trong nước ngày càng dồi dào.

Cùng với chỉ thị 100- CT/TW, năm 1981, Đảng ta đề ra một số chính sách mới về nông nghiệp, từng bước xoá bỏ phương thức quản lý tập trung đối với hợp tác xã, tạo điều kiện cho Hợp tác xã tự chủ kinh doanh, bước đầu thừa nhận vai trò hộ kinh tế gia đình, kinh tế nhiều thành phần. Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tình hình phát triển kinh tế ở cơ sở.

Trung ương ban hành Chỉ thị 64-CT/TW qui định về nhiệm vụ đối với Đảng bộ phường là phải quán triệt đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược. Trên cơ sở đặc điểm của phường và những yếu cầu cấp bách về sản xuất, đời sống của nhân dân, Đảng bộ cần nêu cao tính năng động, chủ động, tự lực, tự cường để lãnh đạo xây dựng phường thành cấp cơ sở có kế hoạch, có ngân sách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ kinh kế, đời sống, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương.

Thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng bộ phường đã tổ chức quán triệt Chỉ thị 64-CT/TW cho toàn Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể và xác định rõ vị trí, nhiệm vụ của cấp phường trong tình hình mới; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng bảo thủ, trì trệ; đề cao tinh thần trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường nhằm giải quyết tốt những vấn đề cấp bách về kinh tế, đời sống, xã hội; xây dựng phường thành cấp cơ sở , hoạt động có kế hoạch và có ngân sách. Sau đợt học tập chỉ thị, cán bộ và đảng viên đã có sự chuyển biến về nhận thức và đã đề ra các biện pháp, giải pháp để  thực hiện nhiệm vụ theo qui định của Trung ương.

Năm 1980, Hội Liên Hiệp phụ nữ phường tổ chức Đại hội lần thứ III - nhiệm kỳ 1980-1983. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 11 người, chị Mai Thị Liễu làm hội trưởng, chị ì Phạm Thị Minh-  hội phó. 

Năm 1982, Đảng bộ Phường Thanh Bình tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ III, nhiệm kỳ 1982-1985. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 9  đồng chí, do đồng chí Phan Văn Nghệ làm bí thư, đồng chí Nguyễn Công Toản - phó bí thư, kiêm chủ tịch Uỷ ban nhân dân, đồng chí Lâm Quang Minh - uỷ viên thường vụ, phụ trách uỷ ban Mặt trận Tổ quốc .

Đại hội xác định thế mạnh của phường về kinh tế là tiểu thủ công nghiệp, kinh tế gia đình và ngư nghiệp. Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cần chú trọng đến ngành có khả năng xuất khẩu. Trong kinh tế gia đình, thì quan tâm phát triển chăn nuôi gia cầm, gia súc, đặc biệt là nguồn thức ăn gia súc. Ngành hải sản cũng cần tổ chức lại việc đánh bắt và chế biến hải sản. Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, việc quản lý đánh bắt hải sản trên địa bàn cũng cần phải được coi trọng.

Năm 1982, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường tổ chức Đại hội nhiệm kỳ III, bầu đồng chí Lâm Quang Minh làm chủ tịch; các phó chủ tịch gồm các đồng chí Trần Văn Quê và Hồ Văn Tôn, Lưu Vạn Hàng.

Trong tình hình sản xuất vẫn tiếp tục khó khăn về nguyên liệu, điện, sắt thép, hoá chất... một số cơ sở phải mua vật liệu theo giá ngoài quá cao, chứng từ không hợp lệ, nguồn điện thiếu hụt không đảm bảo cho sản suất... Uỷ ban nhân dân phường đã tích cực tạo điều kiện thuận lợi giúp các cơ sở sản xuất xoay xở để có đủ nguyên vật liệu phát triển sản xuất.

Đối với ngành tiểu thủ công nghiệp, Đảng bộ phường đã tập trung tạo điều kiện giúp đỡ các cơ sở để có điều kiện thu hút lao động tại chỗ, tận dụng nguồn nguyên vật liệu tại địa phương, hoặc là do liên kết đối lưu mà có; Uỷ ban nhân dân phường còn chỉ đạo việc mở rộng mặt hàng xuất khẩu, đối lưu kinh tế, kiện toàn một số tổ chức, xây dựng các đoàn thể quần chúng, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho xã viên và người lao động, tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước. 

Nhờ các giải pháp trên, với sự nỗ lực của Đảng bộ, sự giúp đỡ của thành phố, ngành tiểu thủ công nghiệp của phường đã có bước phát triển mới về số lượng và chất lượng, hàng năm đạt và hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Các hợp tác xã và tổ hợp tác sản xuất phường được tiếp tục củng cố và phát triển tương đối ổn định như tổ hợp mộc, tổ hợp bì ny lông, tổ hợp đan len xuất khẩu, tổ hợp dệt, tổ hợp gò hàn, tổ hợp cơ khí ... Ngoài ra còn có 1 số cơ sở sản xuất cá thể thực hiện đăng ký kinh doanh. Nhìn chung, sản xuất đã  có những chuyển biến mạnh  góp phần giải quyết khó khăn trong đời sống, việc làm của nhân dân. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng lên rõ rệt. Mặt khác, Đảng bộ còn triển khai tiến hành điều tra nắm tình hình về các ngành nghề và lao động trong từng gia đình, về phương tiện vật tư, vốn, kỹ thuật... vận động tổ chức nhân dân phát triển sản xuất theo tinh thần Nghị quyết 31 của Trung ương. Một bộ phận nhân dân cũng đã tham gia làm gia công sản xuất cho phường.

Năm 1981 toàn phường có 12 tổ hợp tiểu thủ công nghiệp, một hợp tác xã mua bán, và nhiều cơ sở sản xuất tư nhân, đến cuối năm 1985 phường có 163 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, với số lao động tiểu thủ công nghiệp là 1187 người, trong đó có 24 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập thể và 3 hợp tác xã[1]. Các cơ sở đã sản xuất được nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống nhân dân, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng trên thị trường.

Nghề đánh bắt và chế biến hải sản của phường cũng đã có nhiều biện pháp để phát triển thành nghề kinh tế trọng điểm của phường, phấn đấu đưa từ 15- 20% dân số của phường sang làm ăn trên lĩnh vực ngư nghiệp. Dựa vào tổ hợp tác đánh bắt cá đã được xây dựng, từng bước phát triển thêm để phục vụ đời sống của nhân dân trong phường, đồng thời còn có thể tham gia xuất khẩu. Đẩy mạnh việc đánh bắt cá gắn với chế biến hải sản và hậu cần phục vụ nghề cá. Nhanh chóng tổ chức lại việc chế biến cá mắm, nghiên cứu giải quyết tốt các nghề phục vụ cho gia đình ngư dân trên bờ, động viên nhân dân hưởng ứng đóng góp để cho nghề cá phát triển. Nghề đánh bắt và chế biến hải sản có nhiều tiến bộ, hàng năm đều vượt chỉ tiêu từ 200 - 260%, các cơ sở và nhân dân đã chế biến được gần 100 tấn mắm các loại.

Để phát triển kinh tế gia đình, Đảng bộ đề ra nhiệm vụ trước mắt là phải duy trì đàn gia súc hiện có trong nhân dân; mở rộng sự liên kết đầu tư vốn với các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn phường để giải quyết tình hình khan hiếm nguồn thức ăn gia súc. Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán đã khẩn trương liên kết đối lưu hàng hoá với hợp tác xã mua bán ở các huyện miền núi, trước mắt là với huyện Thạnh Mỹ, huyện Giằng để có thêm nguồn thức ăn gia súc cung cấp cho các hộ chăn nuôi. Các tổ chức hội đoàn thể động viên hội đoàn viên, các gia đình, tích cực hưởng ứng thi đua chăn nuôi heo, gà (nuôi heo phát triển mạnh về số lượng, từ 2500 -  3000 con/phường). Phong trào chăn nuôi đã trở nên rầm rộ và đã thành nghề chính của nhiều hộ gia đình trong phường.

Đối với thương nghiệp và dịch vụ, Đảng bộ tập trung củng cố hợp tác xã mua bán để phục vụ tốt nhu cầu nhân dân. Hợp tác xã mua bán đã kiện toàn tổ chức, đưa cán bộ trẻ vào ban quản lý, rà soát lại đội ngũ nhân viên, đẩy mạnh việc liên kết đối lưu hàng hoá để tăng thêm nguồn hàng tự doanh. Ban Chủ nhiệm hợp tác xã đề ra kế hoạch chế biến thực phẩm để phục vụ bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Các cửa hàng chú trọng khai thác các nguồn hàng phục vụ nhu cầu bức thiết hằng ngày như gạo, thực phẩm, chất đốt; và mở cửa liên tục trong tất cả các ngày để phục vụ việc mua sắm của nhân dân được thuận lợi.

Đảng bộ chỉ đạo cần mở rộng hoạt động của Hợp tác xã mua bán xuống các khu vực và tổ dân phố. Tăng mặt hàng tự doanh bán lẻ đến tận tay người tiêu dùng. Hợp tác xã Mua bán đã tổ chức được các quầy hàng tự doanh mua bán trực tiếp cho nhân dân. Doanh số hợp tác xã mua bán hàng năm đều tăng. Hợp tác xã mua bán ngày càng được củng cố và mở rộng thêm mạng lưới bán lẻ đến các khu phố. Hàng tự doanh cùng ngày càng tiến bộ. Doanh số mua vào bán ra đều vượt chỉ tiêu trên giao. Hàng năm vượt chỉ tiêu về doanh số từ 110-117%. Kinh tế phát triển đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, đời sống nhân dân tuy còn nhiều khó khăn, song đã tương đối ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Về công tác cải tạo tiểu thương, quản lý thị trường, chính quyền thành lập Hội đồng rà soát toàn bộ toàn bộ công tác thu thuế công thương nghiệp, bảo đảm tính công bằng giữa các hộ kinh doanh. Chính quyền tăng cường công tác quản lý thị trường, củng cố đội ngũ cán bộ thu thuế của phường; kiên quyết truy quét bọn đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả; tiến hành sắp xếp lại việc mua bán trong chợ theo ngành hàng, và dọc các tuyến phố chính. Đối với các nhà hàng giải khát hợp doanh, đội thu thuế tổ chức kiểm tra hành chính để lập lại trật tự kinh doanh. Uỷ ban nhân dân phường đã chuyển một số tiểu thương buôn bán sang sản xuất và ngành nghề khác; đẩy mạnh các biện pháp để quản lý thị trường ổn định giá cả các mặt hàng trên địa bàn phường.

Tuy nhiên, nhìn chung các mặt kinh tế, xã hội của phường còn phát triển chậm, thành tựu đạt được chưa nhiều so với khả năng thực tế và yêu cầu của đời sống nhân dân. Trước tình hình đó, Đảng bộ đề ra một số giải pháp thực hiện: Đối với ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cần tập trung sức giúp đỡ các cơ sở có điều kiện thu hút được nhiều lao động tại chỗ, nguồn vật liệu tại địa phương, hoặc liên kết đối lưu kinh tế; đối với ngư nghiệp, kiên quyết đầu tư để đưa thành nghề kinh tế trọng yếu của phường, dựa vào tổ hợp đánh bắt cá đã được xây dựng để từng bước phát triển thêm, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống ngươiì dân; đối với kinh tế gia đình, trước mắt cần tập trung giữ vữîng đàn gia súc, vấn đề bức bách nhất là phải đảm bảo nguồn thức ăn gia súc. Các biện pháp trên đã được Uỷ ban nhân dân và các ban ngành đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và cải thiện đời sống người dân.

Từ ngày 27 đến ngày 31-3-1982, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V được triệu tập. Đại hội thông qua báo cáo Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ 5 năm 1981-1985. Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ V của Đảng triển khai trong bối cảnh tình hình đất nước đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Một số mặt có phát triển nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn nằm trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.

Tháng 1-1983, Thành uỷ Đà Nẵng tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ II. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ trong 3 năm 1983-1985: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, ra sức động viên giáo dục toàn Đảng và toàn dân quán triệt sâu sắc hơn nữa vị trí, đặc điểm của thành phố... chủ động khai thác mọi tiềm năng hiện có, đưa nền kinh tế quốc dân phát triển mạnh mẽ, chú trọng phát triển kinh tế đô thị, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, khai thác thuỷ  sản và xuất khẩu".

Đảng bộ phường Thanh Bình phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng lần thứ 13 và Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ  II, Đảng bộ đề ra nhiệm vụ trọng tâm: Động viên toàn thể cán bộ và nhân dân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và phục vụ trong toàn phường phát huy thắng lợi đã giành được trong năm qua, khắc phục thiếu sót trong tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ, khắc phục mọi khó khăn trong vấn đề về tiền vốn, vật liệu, điện, và lao động sản xuất, giữ gìn an ninh chính trị trật tự xã hội. Với tinh thần: "Người người thi đua, nhà nhà thi đua" thúc đẩy lao động sản xuất, phục vụ đời sống và các mặt công tác khác. Hội nghị đề ra chỉ tiêu cho từng lĩnh vực để phấn đấu thực hiện, thể hiện tinh thần quyết tâm và tạo bầu không khí sôi nổi thi đua lao động sản xuất trong toàn phường.

Đảng bộ chăm lo công tác xây dựng đảng: Năm 1981, Đảng bộ có 4 chi bộ với 158 đảng viên. Trong những năm 1982-1985 Đảng bộ phát triển 5 đảng viên. Cuối năm 1985, Đảng bộ  có 10 chi bộ và 306 đảng viên. Đảng viên đã làm nòng cốt ở các khu dân cư, đi đầu trong công tác vận động nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, đảng viên còn là chỗ dựa của nhân dân.

Tháng 5-1982, nhân dân phường tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phường. Tiếp đó Hội đồng nhân dân phường đã bầu ủy ban nhân dân, và đồng chí Nguyễn Công Toản được bầu làm chủ tịch, đồng chí Trần Đình Cảnh, Lê Viết Tự - phó chủ tịch. Sau đó đồng chí Nguyễn Công Toản đi học, đồng chí Trần Đình Cảnh làm chủ tịch. Năm 1984, phường tổ chức bầu Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, đồng chí Trần Đình Cảnh giữ chức chủ tịch, đồng Nguyễn Văn Giám - phó chủ tịch.

Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân tổ chức bầu tổ trưởng, tổ phó các tổ hội đồng, bầu các thành viên UBND theo như luật định, UBND phường được củng cố kiện toàn đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ cách mạng đang đặt ra.

Năm 1983, Hội Liên Hiệp phụ nữ phường tổ chức Đại hội lần thứ IV, bầu Ban Chấp hành gồm 11 người, chị Phạm Thị Minh - chủ tịch, chị Võ Thị Siêng - phó chủ tịch.

Năm 1985, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường tổ chức Đại hội nhiệm kỳ IV, bầu đồng chí Trần Văn Quê làm chủ tịch; các đồng chí Lâm Quang Minh, Hồ Văn Tôn, Lưu Vạn Hàng - phó chủ tịch.

Đảng bộ tiếp tục quan tâm lãnh đạo công tác dân vận, phát huy những thành quả công tác tôn giáo vận trong những năm qua, tổ chức mặt trận và các đoàn thể duy trì thường xuyên mối quan hệ thăm hỏi các vị linh mục, các chức sắc tôn giáo, vận động tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.

Năm 1983, thực hiện các Nghị quyết của Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam Đà Nẵng và đề cương cải tiến hợp tác xã mua bán của tỉnh, rút kinh nghiệm trong những năm qua, Ban chủ nhiệm hợp tác xã phường đã quyết tâm xây dựng tổ lao động xã hội chủ nghĩa. Ban chủ nhiệm hợp tác xã đã huy động thêm vốn cổ phần trong nhân dân và Ban quản lý các HTX đã tổ chức mở địa điểm bán hàng lẻ, mở thêm một quầy ăn uống, giải khát phục vụ nhân dân.

Phường đã làm tốt việc thu thuế công thương nghiệp, phong trào gửi tiền tiết kiệm và mua công trái xây dựng tổ quốc tuy chưa cao nhưng thành tích đạt được cũng là một cố gắng lớn. Công trái năm 1983-1984 đạt 117 % chỉ tiêu  trên giao, xếp thứ 7/28 phường.

Tình hình kinh tế trong nước có nhiều thay đổi về  “giá - lương- tiền” ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 7 năm 1984) và hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 12-1984) nhận xét: Chính sách giá-lương-tiền không phù hợp với với thực tế, giá cả biến động mạnh, đồng tiền liên tục mất giá. Hội nghị tiếp tục đề ra đường lối cải tiến quản lý kinh tế , về phân phối lưu thông, về giá lương tiền. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 6-1985) quyết định: xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện chế độ tập trung dân chủ, hoạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Các chủ trương trên được thực thi đã xoá bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, sản phẩm của người dân làm ra được tự do lưu thông, buôn bán. Thị trường trở nên nhộn nhịp, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhờ đó đời sống nhân dân dần dần được cải thiện.

Trên lĩnh vực công tác giáo dục, văn hoá, y tế đạt nhiều thành tựu. Công tác giáo dục không ngừng nâng lên cả số lượng và chất lượng. Số lượng học sinh hàng năm đều tăng, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp năm sau cao hơn năm trước. Thực hiện chương trình cải cách giáo dục, với tinh thần nổ lực phấn đấu, các nhà trường đóng trên địa bàn phường cùng với đội ngũ các thầy cô giáo đã đem hết khả năng và sự hiểu biết của mình để phục vụ cho công tác dạy và học, chính nhờ đó mà chỉ tiêu về giáo dục của phường đạt được kết quả: Học sinh của phường đạt được các giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố về các môn học. Các trường quan tâm việc kết hợp giáo dục văn hoá với tư cách đạo đức cho học sinh, và quan tâm mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và đoàn thể.

Ngành mẫu giáo nhà trẻ cũng được phát triển. Cán bộ, nhân dân đã góp công sức tiền của xây dựng mới phòng học, đồng thời sửa chữa lại các phòng học cũ. Tuy nhiên, công tác giáo dục của phường gặp nhiều khó khăn, chất lượng học tập còn thấp, trường lớp, bàn ghế chưa đáp ứng với yêu cầu.

Đảng uỷ chăm lo công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân: quan tâm đến vấn đề xây dựng mạng lưới y tế cơ sở, thành lập trạm y tế, thực hiện điều trị kết hợp Đông Tây y trong khám chữa bệnh cho nhân dân. Quan tâm đến sức khoẻ cho học sinh, thực hiện tốt chính sách sinh đẻ có kế hoạch. Công tác vệ sinh phòng dịch được chú ý  với khẩu hiệu phòng bệnh hơn chữa bệnh; tổ chức tiêm phòng vắc-xin cho trẻ em; hoàn thành chỉ tiêu về công trình hố xí, giếng nước và nhà tắm.

Hưởng ứng chủ trương do tỉnh, thành phố phát động, Đảng bộ phường Thanh Bình phát động phong trào xây dựng cụm văn hoá mới- con người mới. Phong trào được phát động và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia hưởng ứng. Tất cả các gia đình đều có khẩu hiệu xây dựng con người mới -gia đình văn hoá mới.

Thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TU của Thành uỷ Đà Nẵng và công văn  hướng dẫn của Mặt trận tổ quốc thành phố về bài trừ tệ mê tín dị đoan,  phường Thanh Bình giao nhiệm vụ cho UBND và UBMT, Công an chịu trách nhiệm tổ chức triển khai xuống tận tổ dân phố, giáo dục giải thích cho nhân dân hiểu việc bài trừ mê tín dị đoan. Qua phong trào này, nhân dân tự giác tháo gỡ nhiều am miếu, khám thờ, trả lại vẻ î đẹp mỹ quan và khuôn viên đường phố. Ngoài ra, nhân dân hưởng ứng tích cực các phong trào mua công trái xây dựng đất nước, phong trào gửi tiết kiệm xây dựng tổ quốc.

Đảng bộ luôn chú trọng công tác thương binh xã hội, đó là việc làm có ý  nghĩa chính trị to lớn, chẳng những làm công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đồng chí đã hy sinh cống hiến cả cuộc đời cho đất nước, mà còn gây một ảnh hưởng tốt đối với những người còn sống, động viên nhân dân đem hết nhiệt tình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Số gia đình thương binh - liệt sĩ ở phường là khá đông. Hàng năm cứ đến ngày 27-7, ngày Tết  cổ truyền dân tộc Đảng uỷ tổ chức gặp mặt, động viên và tổ chức đi thăm viếng và thực hiện tốt chế độ chính sách đối với các đối tượng.

Tình hình chung của thành phố và phường Thanh Bình về công tác trật tự an ninh xã hội có nhiều phức tạp. Địch cố phá ta về  nhiều mặt, gây những khó khăn và gây hoang mang trong một bộ phận nhân dân, làm cho họ thiếu lòng tin đối với Đảng, nhất là đối với một số phần tử tiêu cực bất mãn. Đứng trước tình hình đó, Đảng uỷ tập trung lãnh đạo công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộ, sắp xếp lại tổ an ninh, tổ hoà giải ở khối phố, nắm chắc những đối tượng chính trị và phạm pháp hình sự nhiều lần. Nhờ đi sâu nắm chắc tình hình và từng đối tượng nên đã kịp thời trấn áp bọn gây rối, bọn tung tin thất thiệt để giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn phường.

Giai đoạn 1980 - 1985, là thời kỳ Đảng bộ phường Thanh Bình  phải đối diện với nhiệm vụ cách mạng vô cùng khó khăn, thử thách. Đặc biệt từ giữa năm 1985, những khó khăn càng trở nên gay gắt, nhất là từ sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền cuối năm 1985, nhưng với quyết tâm của Đảng bộ, sự nỗ lực của nhân dân, sự đoàn kết, gắn bó trong hệ thống chính trị, việc triển khai các chủ trương của Đảng và Nhà nước đã góp phần từng bước giải quyết công ăn việc làm, ổn định cuộc sống nhân dân. 

  

CHƯƠNG BỐN

ĐẢNG BỘ PHƯỜNG THANH BÌNH
LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG
(1986-1996)

 

1. Giai đoạn 1986-1991.

Trong những năm qua, Đảng bộ phường Thanh Bình nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế xây dựng cuộc sống mới, từng bước xây dựng phường Thanh Bình trở thành phường phát triển mạnh về tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, giải quyết được nhiều việc làm cho người dân; tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội đảm bảo; cuộc sống  của nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, đời sống kinh tế, và xã hội phường Thanh Bình cũng không thoát khỏi tình trạng khó khăn chung của đất nước. Trong những năm 1985, 1986, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai xẩy ra liên tiếp, sự thiếu hụt về nguyên vật liệu, tiền vốn... càng làm cho tình hình kinh tế- xã hội ở phường gặp nhiều khó khăn.

Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, trong những năm qua luôn được coi là vấn đề nóng bỏng, nhất là từ khi thực hiện chủ trương về Giá- Lương- Tiền, đã gây nên sự biến động về giá cả. Cuộc sống của cán bộ và nhân dân đã khó khăn càng khó khăn hơn, tình hình càng diễn biến phức tạp, tác động đến đời sống của cán bộ và nhân dân. Công tác thu mua nắm nguồn hàng của các cơ quan còn thấp, xẩy ra tình trạng tranh mua, tranh bán, làm cho thị trường thêm rối loạn. Đời sống văn hoá, xã hội gặp nhiều khó khăn. Hàng tiêu dùng thiếu thốn. Vấn đề giải quyết công ăn việc làm đang đặt ra hết sức bức xúc. Cơ sở vật chất của trường, lớp còn thiếu thốn; chất lượng giáo dục chưa toàn diện; việc giáo dục đạo đức và văn hoá cho học sinh còn hạn chế. Đây cũng là tình hình chung của thành phố và đất nước ta, đòi hỏi Đảng bộ  phải tìm cách đổi mới để phát triển.

Ngày 23-12-1985, Đảng bộ phường Thanh Bình tiến hành Đại hội Đại biểu Lần thứ III, Đại hội đánh giá: đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ đề ra trong thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn những mặt tồn tại:

- Trong việc chỉ đạo phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp còn ỷ lại vào cấp trên, viện cớ chưa được phân công, quản lý, ít đi xuống các đơn vị sản xuất để kiểm tra giám sát cung cách làm ăn. Đối với kinh tế gia đình tuy có cố gắng, nhưng không đáng kể, nhiều dự kiến không thực hiện được, kinh tế gia đình còn nhiều vấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu giải quyết. Đối với thương nghiệp, dịch vụ, tuy có một số tiến bộ nhưng còn nhiều mặt yếu kém chưa đáp ứng đựơc yêu cầu của nhân dân. Mặt khác, tư tưởng chỉ đạo còn chần chừ, do dự, còn vin vào các khó khăn khách quan, không thực hiện xây dựng những công trình mà đại hội lần thứ 3 đã đề ra như chế biến thực phẩm, chế biến hải sản, phát triển con giống..., những khuyết điểm này thuộc về sự chỉ đạo của Đảng uỷ mà trực tiếp là thường vụ và thường trực uỷ ban nhân dân.

Chỉ đạo các hoạt động của hợp tác xã mua bán chưa chặt chẽ, chưa quản lý tốt nhân sự, chưa chú trọng giáo dục quan điểm cho cán bộ và nhân viên hợp tác xa,î do đó để xẩy ra một vài sự kiện làm ảnh hưởng đến uy tín của lãnh đạo, làm cho quần chúng thiếu lòng tin đối với hợp tác xã.

- Chỉ đạo việc xây dựng hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân chưa đủ mạnh, chưa phát huy đầy đủ vai trò chức năng của các cơ quan, chưa có biện pháp tích cực giải quyết vệ sinh cống rãnh trong các ngõ kiệt, vệ sinh bãi biển, trật tự an toàn bãi tắm. Đấu tranh chống tệ nạn xã hội buôn lậu làm hàng giả chưa thường xuyên liên tục.

- Chỉ đạo công tác phát triển đảng viên mới còn chậm, xây dựng củng cố Đoàn Thanh niên chưa tích cực.

Để khắc phục tình hình trên, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ chung trong 2 năm 1986-1987, trong đó xác định thế mạnh và cơ cấu kinh tế của phường là: "Công, ngư, thương, tín".

Đại hội đề ra một số nhiệm vụ cụ thể :

- Ra sức thực hiện cơ cấu kinh tế phường thành phường Công, ngư, thương, tín. Phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp có tiềm năng tham gia xuất khẩu, sản xuất các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân, mà nguồn nguyên liệu có thể khai thác tại địa phương. Đưa ngư dân vào làm ăn tập thể, chuyển bộ phận quan trọng nghề rớ lên nghề mành lưới.

- Mở rộng hoạt động kinh doanh dịch vụ của Hợp tác xã mua bán đến tận tổ dân phố. Xây dựng hợp tác xã Tín dụng nhằm đầu tư cho phát triển sản xuất. Đồng thời coi trọng phát triển kinh tế gia đình theo hướng xã hội chủ nghĩa, hướng vào sản xuất tiểu thủ công, chăn nuôi, chế biến thực phẩm, hợp tác xã Sản xuất, hợp tác xã Tín dụng, và hợp tác xã mua bán, cấu thành bộ 3 kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa vững mạnh, làm nòng cốt chi phối nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.

- Ra sức xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể vững mạnh.

Đại hội đã đề ra một số chỉ tiêu cụ thể:  Phát triển các tổ hợp tác dệt, mây tre, mành trúc và thêu ren xuất khẩu thành các hợp tác xã. Phấn đấu đến năm 1986, khu vực sản xuất tập thể tiếp nhận cho được 200-300 lao động, hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước giao. Vận động trên 90 % ngư dân vào các tổ hợp tác đánh bắt hải sản. Phấn đấu đến năm 1986 đánh bắt cho được 250-300 tấn hải sản, chế biến từ 90-100 tấn mắm, cá các loại. Ngoài số lương thực tỉnh và thành phố bán cho dân hàng tháng, hợp tác xã cần đảm bảo mỗi lao động có thêm 1 kg lương thực (màu là chính) và 1/2 kg thịt, cá, 1/2 kg mắm, muối, rau...

Về văn hoá xã hội, đến năm 1986 phường phấn đấu xây dựng  60% gia đình đạt“5 tốt”; gia đình văn hoá mới và 100% cán bộ, đảng viên đạt gia đình 5 tốt, gia đình văn hoá mới. Phấn đấu hạ tỷ lệ sinh xuống 1,4%, coi đây là 1 trong những nhiệm vụ chiến lược. Tiếp tục xây dựng an ninh quốc phòng vững mạnh, đảm bảo luật  cư trú bắt buộc để góp phần làm trong sạch địa bàn; chọn lọc xây dựng cơ sở tuyến ven biển về lâu dài và phục vụ yêu cầu chống vượt biên, vượt biển, chống những phần tử phản cách mạng xâm nhập.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 9 đồng chí, đồng chí Phan Văn Nghệ làm bí thư, đồng chí Lê Thanh phó - bí thư và đồng chí Trần Đình Cảnh - uỷ viên thường vụ  và  được bầu làm chủ tịch uỷ ban nhân dân, đồng chí Trần Văn Quê uỷ - viên thường vụ, chủ tịch uỷ ban mặt trận Tổ quốc, đồng chí Đỗ Hưng - uỷ viên thường vụ, phụ trách Dân vận. Tháng 9-1986, đồng chí Phan Văn Nghệ chuyển công tác, đồng chí Nguyễn Văn Minh làm bí thư Đảng bộ phường Thanh Bình.

Đến tháng 9-1986, Đảng bộ Đà Nẵng tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ IV. Sau khi đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết thời gian qua, Đại hội đề ra nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu là quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng và tỉnh uỷ Quảng Nam- Đà Nẵng cho cán bộ và nhân dân; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ một cách năng động, sáng tạo, bố trí lại sản xuất, đẩy mạnh việc đầu tư phát triển kinh tế- xã hội; tiếp tục đẩy mạnh cải tạo XHCN; thực hiện nhiệm vụ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; phát triển sự nghiệp văn hoá xã hội; xây dựng quốc phòng vững mạnh; nâng cao năng lực sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Trong đó nhiệm vụ trước mắt từ năm 1986-1988 là: ổn định về cơ bản tình hình kinh tế xã hội mà quan trọng nhất là ổn định và phát triển sản xuất, ổn định thị trường, ổn định và cải thiện một bước đời sống của nhân dân lao động, cùng với tỉnh và trung ương khắc phục những sai lầm, khuyết điểm  của những năm vừa qua, tạo điều kiện đẩy mạnh các nhiệm vụ trong những năm đến.

Tiếp đó, từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tổ chức. Đây là Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn; tiến hành đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế; kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển hẳn sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Coi trọng việc kết hợp 3 lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội trong chế độ phân phối. Chú trọng chăm lo toàn diện và phát triển nhân tố con người. Đại hội lần thứ VI của Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội ở nước ta kéo dài hơn chục năm qua. Đường lối đổi mới của Đại hội Lần thứ VI của Đảng được cán bộ, nhân dân trong phường phấn khởi đón nhận.

Năm 1986, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường tiến hành Đại hội lần thứ II (nhiệm kỳ 1986-1988), Đại hội bầu anh Dương Phú Kiếm làm bí thư, anh Lê Thanh Quang và chị Lê Thị Kim Anh làm phó bí thư.

Năm 1986, Hội phụ nữ phường tiến hành Đại hội lần thứ V (nhiệm kỳ 1986-1989), Đại hội bầu chị Phạm Thị Minh làm chủ tịch, chị Võ Thị Siêng phó chủ tịch.

Năm 1987, tổ Đoàn kết hợp tác ngư nghiệp phường Thanh Bình được thành lập do ông Nguyễn Sơn, bí thư chi bộ Tân Lập A2 làm tổ trưởng.

Đường lối đổi mới của Đảng là một cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn đảng, toàn dân có tác động sâu sắc đến mọi hoạt động, mọi tầng lớp nhân dân, đã cổ vũ cán bộ và nhân dân trong phường khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế, nâng đời sống.

Từ năm 1986, cơ cấu kinh tế của phường được xác định là "Công, ngư, thương, tín", các ban ngành, đoàn thể đã triển khai các hoạt động, bước đầu phát huy được tiềm năng sẵn có, có ngành đạt được hiệu quả kinh tế khá.

Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, năm 1986, tuy một số cơ sở gặp khó khăn, nhưng nhờ 11 cơ sở còn lại phấn đấu vươn lên bằng cách làm thêm mặt hàng, tăng ca, cải tiến kỹ thuật, tự lo tìm tòi nguyên vật liệu, củng cố lại sản xuất nên đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, nhờ đó mà ngành tiểu thủ công nghiệp của Phường đạt được 102,7% chỉ tiêu tổng sản lượng trên giao.

Đường lối đổi mới đã bước đầu đem lại sự phấn khởi trong nhân dân, tuy nhiên phường Thanh Bình vẫn nằm trong tình hình khó khăn chung của đất nước, là phường có số dân đông và phần lớn là nhân dân lao động nghèo, chủ yếu làm dịch vụ, buôn bán, 94% đảng viên là hưu trí. Thực hiện Nghị quyết 16-NQ/TW ngày 15 tháng 7 năm 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Đảng uỷ đã có kế hoạch và biện pháp triển khai thực hiện, nhằm động viên quần chúng phát huy mọi tiềm năng, về lao động, ngành nghề, tiền vốn bỏ ra làm ăn và bước đầu có kết quả tốt. Đã có một số cơ sở sản xuất tư nhân phát triển như: điện lạnh, gạch tráng men, sản xuất bánh, đánh bắt hải sản, mộc dân dụng,...

Năm 1986, sản xuất cá thể và kinh tế gia đình tuy hướng dẫn tổ chức của ta chưa được bao nhiêu, nhưng do thực tế cuộc sống, cán bộ và nhân dân đã khắc phục khó khăn  phấn đấu đạt những kết qủa tốt về chăn nuôi, đàn lợn tăng lên  2.816 con;  nhiều sản phẩm trồng trọt, làm gia công trong nhân dân góp tăng thêm sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, và cải thiện được đời sống nhân dân. Trong những năm 1989-1991 kinh tế gia đình được giữ vững, và có mặt phát triển, những nghề truyền thống như chằm nón, chăn nuôi, sản xuất xà phòng, xay xát, sản xuất bún...đã thu hút được lao động, góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng thêm thu nhập. Có thể nói ngành tiểu thủ công nghiệp của phường Thanh Bình có được những bước phát triển mạnh.

Trên lĩnh vực phân phối lưu thông, Đảng bộ có biện pháp triển khai thực hiện từng bước Chỉ thị 135 và Quyết định 240 của Hội đồng bộ trưởng, bước đầu có chuyển biến về quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Việc tổ chức đánh bắt cá mới được hình thành (giữa mùa ca)ï bước đầu đạt được một số kết quả và tạo phấn khởi trong ngư dân.

Năm 1986, Hợp tác xã mua bán của phường Thanh Bình được củng cố một bước về tổ chức, tiếp tục duy trì hoạt động, đã thực hiện được 208,56% chỉ tiêu mua vào và 189,01% bán ra, và đã cố gắng phục vụ được một số mặt hàng thiết yếu cho nhân dân.

Với thời gian ngắn, năm 1986, hợp tác xã Tín dụng khẩn trương hoạt động, đã có 2.247 cổ phần, với số tiền tư nhân tham gia lên được gần 1 triệu đồng, đã góp phần thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân, tạo thêm vốn cho cơ sở sản xuất và kinh tế gia đình phát triển.

Năm 1985, Uỷ ban nhân dân phường tiến hành xây dựng nhà văn hoá phường làm nơi tổ chức hội họp và sinh hoạt văn hóa và cho nhân dân trong những dịp lễ tết. Công trình được hoàn thành trong năm 1986. Có thể nói công trình nhà văn hoá phường là sự nỗ lực, cố gắng của tập thể cán bộ và nhân dân phường trong việc vừa thiết kế vừa thi công, trong lúc mà thời điểm giá cả leo thang... Công trình hoàn thành đã tạo điều kiện góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân phường.

Tháng 2-1989, Đảng bộ phường Thanh Bình tiến hành Đại hội Đại biểu Đảng bộ phường lần thứ V, nhiệm kỳ 1989-1991. Đại hội đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ qua. Đó là đường lối đổi mới của Đảng đã đem lại nhiều thành tựu cho sự phát triển chung của đất nước, trong đó có phường Thanh Bình, song tình hình thực tế còn nhiều khó khăn phức tạp, các nứơc xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, có tác động đến tư tưởng cán bộ và nhân dân. Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân đã phấn đấu vươn lên, đã đạt được một số kết quả đáng kể trên các lĩnh vực xây dựng Đảng, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế ,văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng...Bên cạnh đó, Đại hội còn chỉ ra một số yếu kém: thể hiện là tình hình kinh tế đời sống, khó khăn hơn so với trước, nhất là đối với những người hưởng lương và dân nghèo. Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội cũng còn những mặt hạn chế, nhất là trong việc nắm tình hình, âm mưu thủ đoạn của địch và các đối tượng chính trị.

Đại hội đã bầu được Ban Chấp hành gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Minh làm bí thư, đồng chí Lê Văn Phong - phó bí thư, đồng chí Trần Đình Cảnh - ủy viên, chủ tịch uỷ ban nhân dân, đồng chí Trần Văn Quê - ủy viên, chủ tịch uỷ ban mặt trận Tổ quốc phường.

Tháng 12-1989, phường tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân. Đầu Năm 1990 đồng chí Phạm Phú Tả làm chủ tịch thay đồng chí Trần Đình Cảnh.

Ngày 25-6-1990, Đảng bộ tiến hành hội nghị giữa nhiệm kỳ. Hội nghị đánh giá tình hình thời gian qua, trên cơ sở đó bổ sung thêm những nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện trong thời gian đến; trong đó đẩy mạnh việc rèn luyện và nâng cao tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên, xây dựng Đảng bộ,  chi bộ trong sạch vững mạnh; lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế, đời sống nhân dân, lãnh đạo thực hiện công tác văn hoá xã hội, lãnh đạo công tác an ninh quốc phòng. Hội nghị còn bầu bổ sung đồng chí Trịnh Hồng Sơn thay đồng chí Lê Văn Phong (do bị bệnh).

Năm 1988, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường tiến hành Đại hội lần thứ III (nhiệm kỳ 1988-1990), Đại hội bầu anh Dương Phú Kiếm làm bí thư, anh Lê Thanh Quang và chị Lê Thị Kim Anh làm phó bí thư.

Năm 1989, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường tổ chức Đại hội lần thức V, Đại hội bầu ông Trần Văn Quê làm chủ tịch, ông Lâm Quang Minh và ông Đỗ Hưng làm uỷ viên thường vụ.

Năm 1989 Hội phụ nữ phường tổ chức Đại hội lần thứ VI - nhiệm kỳ 1989-1991. Đại hội bầu chị Võ Thị Siêng làm chủ tịch, chị Lê Thị Anh Nga làm phó chủ tịch.

Tháng 4-1989, Hội Tàu thuyền phường Thanh Bình được thành lập do ông Phan Anh phụ trách. Đến cuối năm 1989, Đảng uỷ phường Thanh Bình lãnh đạo thành lập Ban vận động chuẩn bị thành lập Hội ngư dân phường Thanh Bình.

Năm 1990, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường tiến hành Đại hội lần thứ IV - nhiệm kỳ 1990-1992. Đại hội bầu anh Nguyễn Trọng Bảo làm bí thư, anh Phan Xuân Anh Khoa và anh Trương Thái Sơn làm phó bí thư.

Ngày 2-3-1990: Hội cựu chiến binh phường Thanh Bình được thành lập theo quyết định số 41/QĐ-ĐU của Thường vụ Đảng uỷ phường Thanh Bình. Ban Chấp hành lâm thời của Hội lúc đó gồm 6 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Đăng Tùng làm chủ tịch, đồng chí Nguyễn Ngọc Phiếu làm phó chủ tịch. Ngày 17-3-1990 Hội Cựu chiến binh phường tiến hành Đại hội lần thứ I - nhiệm kỳ 1990-1993. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành gồm 9 đồng chí, và đồng chí Nguyễn Đăng Tùng lamì chủ tịch, đồng chí Võ Phúc Tiên - phó chủ tịch.

Trong giai đoạn 1989-1991, mặc dầu chịu tác động do tình hình kinh tế khó khăn, nhưng Đảng bộ vẫn quan tâm chăm lo công tác giáo dục, y tế và xã hội. Công tác giáo dục được duy trì tốt: 3 trường phổ thông và mẫu giáo trên địa bàn vẫn giữ được danh hiệu tiên tiến. Công tác bổ túc văn hoá được duy trì và đi vào nề nếp, ổn định. Trường mẫu giáo đạt 5 năm liền danh hiệu trường tiên tiến. Các trường phổ thông cơ cở, nhà trẻ tuy có nhiều khó khăn, nhưng qua các năm học đã có nhiều mặt tiến bộ. Năm học 1990-1991, tỉ lệ thi tốt nghiệp của trường Lê Hồng Phong: cấp I - đạt 96,1%, cấp II - đạt 89,6%, trường Ông Ích Khiêm cấp I - đạt 98%, cấp II - đạt 94%, số học sinh bỏ học là 3%. Công tác  xoá mù chữ và phổ cập giáo dục cấp I, qua kiểm tra được xác nhận là cơ bản hoàn thành tiêu chuẩn quốc gia; đã cố gắng xây mới 6 phòng học của trường Lê Hồng Phong và tiến hành sửa chữa đối với một số các trường khác.

Công tác phòng bệnh và vệ sinh được đẩy mạnh, không để xẩy ra các ổ dịch làm ảnh hưởng sức khoẻ nhân dân. Công tác vệ sinh phòng bệnh - dịch và khám chữa bệnh cho nhân dân có nhiều chuyển biến. Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trên địa bàn phường đạt 100%. Công tác truyền thông dân số và kế hoạch hoá gia đình đã triển khai thực hiện có kết quả. Toàn phường tỷ lệ phát triển dân số là 1,7%. Vận động sinh đẻ có kế hoạch tuy có nhiều khó khăn, nhưng được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đoàn thể, nên đã vượt được chỉ tiêu, hạ thấp tỷ lệ dân số xuống 1,3%, Trạm y tế vẫn giữ được truyền thống là đơn vị khá.

Hoạt động thông tin văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, tập dưỡng sinh được  duy trì, phát triển thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là cán bộ hưu trí thường xuyên luyện tập, rèn luyện sức khoẻ.

Uỷ ban nhân dân Phường huy động các nguồn quĩ, xây dựng được 3 nhà tình nghĩa cho gia đình liệt sĩ, thương binh. Phường luôn quan tâm chăm lo, trợ cấp cho các  gia đình nghèo khó, neo đơn.

Ngày 05-12-1987, Chợ Thanh Bình được  cải tạo nâng cấp. Uỷ ban nhân dân phường đã làm lễ khánh thành chợ và đưa các hộ tiểu thương vào buôn bán kinh doanh. Chợ mới xây dựng thông thoáng, sạch sẽí và vệ sinh đã tạo điều kiện cho nhân dân trong phường đi lại mua sắm thuận lợi.

Trong những năm 1989-1991, trên lĩnh vực kinh tế và đời sống, mặt khuyết nhược điểm thể hiện rõ nhất đó là các cơ sở sản xuất tập thể bị đình đốn do không theo kịp với yêu cầu của cơ chế mới; năm 1991, một số cơ sở như cơ khí, Hợp tác xã mua bán, tín dụng với những tồn tại chưa giải quyết thoả đáng đã ảnh hưởng đến niềm tin của quần chúng nhân dân, và cũng chưa có hướng giải quyết để phát triển sản xuất kinh doanh; đối với kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân, tiềm năng tuy có nhưng cũng chưa kịp thời có hướng tập trung lãnh đạo để phát triển. Đó là vấn đề khó khăn mà thực tế đặt ra đòi hỏi Đảng bộ phải tập trung nghiên cứu, lãnh đạo để khắc phục khó khăn, ổn định tình hình.

Trong công tác quốc phòng địa phương: các  phong trào xây dựng tổ hộ an toàn được tổ chức đều khắp, đã phân loại được các đối tượng dân cư để giáo dục, quản lý. Lực lượng công an, an ninh nhân dân được củng cố về tổ chức, về tư tưởng, đã góp phần phát huy tác dụng “bám dân” và đã hạn chế được các vụ vượt biển, hạn chế đối tượng hình sự... Lực lượng dân quân được củng cố và mở rộng về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Những năm 1989-1991, trứơc tình hình trong nước và trên thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, bọn phản động có nhiều âm mưu chống phá cách mạng nước ta, Đảng bộ đã tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo trên lĩnh vực này, đã có nghị quyết chuyên đề về an ninh quốc phòng, nên cơ bản đã giữ vững ổn định chính trị và tình hình trật tự xã hội trên địa bàn. Qua các đợt triển khai thực hiện chỉ thị 135, cán bộ và nhân dân đã có chuyển biến tốt, tình trạng trộm cắp, gây gổ đánh nhau giảm.

Trước tình hình khó khăn phức tạp ở trong nước và trên thế giới, Đảng bộ phường Thanh Bình đã đề ra nhiều biện pháp; tổ chức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập các chủ trương, đường lối của Đảng; học tập lý luận chính trị, nâng cao tính chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảngü. Đảng bộ cũng đã đặt công tác xây dựng đảng lên nhiệm vụ hàng đầu.

Đồng thời Đảng bộ thường xuyên tổ chức học tập và sinh hoạt chính trị, quán triệt triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, 7, 8 và các Chỉ thị 59, 52 về chỉnh đốn đảng. Thông qua việc tham gia góp ý kiến các văn kiện Đại hội 7, tổ chức các hoạt động nhân những ngày lễ lớn trong năm cũng  đã củng cố được tư tưởng của đảng viên trên tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; không có biểu hiện tư tưởng đa nguyên, đa đảng, đặc biệt là tình hình Liên xô tan rã. Có thể nói về tư tưởng lúc bấy giờ, tuy có biểu hiện lo lắng, nhưng đại bộ phận nhân dân vẫn tin tưởng vào con đường mà Bác Hồ và Đảng đã lựa chọn. Khi sự  kiện ngày 19 tháng 8  năm 1991 ở Liên Xô xẩy ra, Đảng uỷ đã kịp thời triệu tập các đồng chí Bí thư chi bộ và khẳng định: dù Liên xô và Đông Âu có sụp đổ, nhưng Việt Nam vẫn vững vàng, cán bộ, đảng viên tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Chính nhờ sự định hướng kịp thời này, các đồng chí Bí thư chi bộ trực thuộc đã về làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo được niềm tin trong quần chúng. Đảng uỷ cũng đã kịp thời gặp gỡ trực tiếp những cán bộ có biểu hiện giao động tư tưởng để động viên họ nhằm ổn định tư tưởng, giữ vững niềm tin theo sự lãnh đạo của Đảng. Qua 3 năm (1989-1991), Đảng bộ đã phấn đấu xây dựng được 5 chi bộ vững mạnh, 12 chi bộ khá, trong đó có 3 chi bộ đạt ba năm liền là chi bộ trong sạch vững mạnh.

Về đội ngũ đảng viên: Đảng bộ đã chú ý phát huy thế mạnh của số đảng viên đã nghỉ công tác về hưu, về mất sức. Hầu hết các đồng chí này đều có tinh thần trách nhiệm, có tâm huyết và có phẩm chất đạo đức cách mạng tốt. Nhiều đồng chí tuy sức khoẻ hạn chế, kinh tế gia đình khó khăn, nhưng đã tích cực tham gia công tác cùng với địa phương và các tổ dân phố. Năm 1991, đảng bộ có 526 đảng viên. Kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ đảng, kết quả: năm 1991 có 41,6% đảng viên phấn đấu tốt, 49,04% đảng viên đủ tư cách nhưng có mặt hạn chế, 1,1% đảng viên có khuyết điểm.

Đảng bộ luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, cán bộ trẻ, cán bộ nữ để kế tục sự nghiệp cách mạng. Nhiều cán bộ được đề bạt, cử đi học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; công tác phát triển đảng cũng được quan tâm, trong 3 năm đã phát triển được 13 đảng viên.

Tháng 8-1990, đồng chí Vũ Oanh - Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Dân vận Trung ương được Thành uỷ Đà Nẵng giới thiệu về thăm và làm việc với Ban Thường vụ Đảng uỷ phường về công tác tôn giáo của Đảng bộ.  Sau khi nắm tình hình đặc điểm của phường, trước sự nỗ lực của Đảng bộ trong công tác Dân vận- Mặt trận, đặc biệt là những thành quả về công tác tôn giáo vận trong những năm qua, đồng chí đã biểu dương và động viên sự nỗ lực của Đảng bộ và cán bộ, đảng viên trong thời gian qua. Sau đó, đồng chí Nguyễn Văn Minh - Bí thư Đảng bộ phường được Thành uỷ cử đi dự Hội nghị đại biểu toàn quốc về tôn giáo vận tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng cổ vũ, động viên tinh thần làm việc của cán bộ, đảng viên trong  toàn Đảng bộ.

2. Giai đoạn 1991-1996:

Ngày 29-3-1991, Ban vận động thành lập Hội Ngư dân phường Thanh Bình tổ chức Hội nghị về việc thành lập chi hội Ngư dân 1 và 2. Tiếp sau đó, hội nghị ngày 31-9-1991 thành lập chi hội Ngư dân 3. Đó là cơ sở để tiến đến tổ chức Đại hội thành lập Hội Ngư dân phường Thanh Bình lần thứ I - nhiệm kỳ 1991-1994 vào ngày 18-12-1991. Đại hội đã bầu ông Phan Anh làm chủ tịch Hội. Sau khi thành lập, Hội đã động viên giúp đỡ hội viên đầu tư tài chính, mở rộng ngư trường đẩy mạnh đánh bắt cá, cải thiện đời sống ngư dân.

Cũng trong năm 1991, Hội phụ nữ phường tổ chức Đại hội lần thứ VII (nhiệm kỳ 1991-1994), Đại hội bầu chị Võ Thị Siêng làm chủ tịch, chị Lê Thị Anh Nga - phó chủ tịch.

Năm 1992, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường tổ chức Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 1992-1994), bầu đồng chí Trần Văn Quê làm chủ tịch, đồng chí Lâm Quang Minh và đồng chí Võ Quang Nghị làm phó chủ tịch.

Cũng trong năm 1992 này, Đoàn thanh niên tổ chức Đại hội lần thứ V - nhiệm kỳ 1992-1995. Đại hội bầu anh Nguyễn Trọng Bảo làm bí thư, anh Phan Xuân Anh Khoa và anh Trương Thái Sơn làm phó bí thư. 

Ngày14 và 15-2-1992, Đảng bộ phường Thanh Bình tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VI. Đại hội đánh giá tình hình của phường qua 3 năm thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương trong bối cảnh đất nước và trên thế giới có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng phường đã quyết tâm phấn đấu để  đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực. Thành quả đó là do có sự đóng góp tích cực của nhân dân, sự nỗ lực của Đảng bộ và sự cố gắng của chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, điều đó đã đặt nền tảng quan trọng để phát triển phường trong những năm đến. Đại hội Đảng bộ lần thứ VI đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 1992- 1994 là:

- Phát huy mọi tiềm năng của nhân dân trong phường, đẩy mạnh phát triển kinh tế, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, giải quyết tốt đời sống cho nhân dân, tạo việc làm cho người lao động, hạ tỷ lệ phát triển dân số dưới 1,7%.

- Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội một cách vững chắc, giữ vững kỹ cương, pháp luật.

- Nâng cao chất lượng dạy và học, phấn đấu giữ vững cacï trường đạt danh hiệu tiên tiến và khá. Xoá mù chữ và thực hiện phổ cập cấp I.

- Từng bứơc giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường trong các khu vực dân cư như là cống rãnh, rác thải..., xây dựng nếp sống mới, con người mới; đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, bài trừ mê tín dị đoan.

- Xây dựng các tổ chức chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân đủ mạnh, hoạt động đều và có chất lượng; các đoàn thể phấn đấu là đơn vị khá và mạnh của thành phố.

- Công tác xây dựng Đảng: tập trung phấn đấu nâng cao chất lượng chi bộ, chất lượng đảng viên, đảm bảo có từ 5 chi bộ trở lên trong sạch vững mạnh, không có chi bộ trung bình, yếu kém, Về đảng viên: có ít nhất trên 90% đảng viên đủ tư cách và 50% đảng viên phấn đấu tốt.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Minh làm bí thư, đồng chí Trịnh Hồng Sơn - phó bí thư thường trực, đòng chí Phạm Phú Tảí - phó bí thư, chủ tịch uỷ ban nhân dân, đồng chí Trần Văn Quế - uỷ viên Thường vụ, chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc.

Ngày 15-4-1993, Hội cựu chiến binh phường tổ chức Đại hội lần thứ II - nhiệm kỳ 1993-1995. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 10 đồng chí.  Đồng chí Võ Phúc Tiên làm chủ tịch, đồng chí Phạm Ngọc Anh - phó chủ tịch. Đến tháng 12-1995, đồng chí Trần Kim Ngân làm phó chủ tịch Hội.thay cho đồng chí Phạm Ngọc Anh

Về phát triển kinh tế: từ năm 1992, Phường đã tập trung lãnh đạo khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có Hợp tác xã, xí nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn, các xưởng và cơ sở khác. Điển hình là Hợp tác xã văn phòng phẩm Trường Sơn, xí nghiệp gỗ, công ty trách nhiệm hữu hạn làm các mặt hàng đông lạnh, điện tử, cơ sở sản xuất đinh, xưởng làm hàng cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng... đã thu hút 184 lao động. Kinh tế gia đình được đẩy mạnh, nhất là phát triển các ngành nghề truyền thống như chăn nuôi, chằm nón, mộc dân dụng....Tổng số cơ sở sản xuất cá thể và kinh tế gia đình là 167 hộ, thu hút 485 lao động, với tổng giá trị sản lượng năm 1993 là 4,5 tỷ đồng, tăng 6% so với năm 1992.

Riêng nghề cá đã động viên khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ vay vốn phát triển phương tiện đánh bắt, do đó sản lượng cá 1993 đạt 225 tấn. Đặc biệt, với chủ trương xoá đói giảm nghèo của Thành phố, phường đã lập hồ sơ cho vay vốn được 4 đợt, với tổng số tiền trên 80 triệu đồng cho 280 lượt  người vay. Ngoài ra còn có 135 triệu đồng vốn quốc gia, đã giải quyết cho vay với 142 hộ để sản xuất. Riêng có 2 chủ hộ tư doanh vay  được 250 triệu để đầu tư sản xuất, và 2 nhóm hộ chăn nuôi vay được 30 triệu đồng. Ngoài ra các Hội của phường cũng tạo điều kiện để hội viên nghèo, khó khăn được vay vốn làm ăn. (Hội phụ nữ vay được 5 triệu đồng, Hội cựu chiến binh được vay 2 triệu đồng.)  Việc làm đó đã giúp giải quyết việc làm cho một số hộ khó khăn.

Mặc dù vậy, Phường cũng còn thiếu biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh phát triển kinh tế gia đình và giải quyết việc làm cho người lao động, nên phần lớn thanh niên phải đi làm ăn xa để sinh sống. Diện đói trong phường thu hẹp còn 10 hộ,  phải trợ cấp thường xuyên, và số nghèo vấn còn tương đối nhiều là 280 hô.

Đến năm 1994, 1995 thực trạng tình hình kinh tế phường chủ yếu là kinh tế cá thể, trong đó chăn nuôi có 326 hộ với 648 lao động, 3 công ty trách nhiệm hữu hạn,  2 xí nghiệp, 1 hợp tác xã cao cấp Trường Sơn, nghề đánh bắt hải sản có 24 hộ với 60 lao động; phần lớn các gia đình còn lại sống bằng nghề buôn bán nhỏ và lao động phổ thông.

Với chức năng phường là cơ quan quản lý hành chính - kinh tế, chứ không phải đơn vị sản xuất kinh doanh, nên về biện pháp chủ yếu là động viên, khuyến khích tạo điều kiện về thủ tục hành chính cho nhân dân tìm cách làm ăn. Đồng thời hướng dẫn và tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về sản xuất, chăn nuôi giỏi, qua mô hình đó để mọi người có điều kiện học tập và học tập lẫn nhau, mở ra hướng làm ăn, ổn định cuộc sống. Trên thực tế điều đó cũng đã có những tác  dụng nhất định.

Về lĩnh vực kinh tế gia đình, các ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghệp, dịch vụ cũng được duy trì và phát triển và tạo việc làm cho người lao động. Tổng hợp chung về giá trị tổng sản lượng theo chỉ tiêu thành phố giao là 5,1 tỷ đồng, ước tính năm 1995 đảm bảo hoàn thành.    Lúc này, hình thức hợp tác xã mua bán, chủ trương giải thể và bán tài sản cố định để chia cho xã viên là đúng, nhưng trong quá trình chỉ đạo thực hiện do thiếu chặt chẽ, chưa kịp thời công khai cho xã viên biết, nên có nhiều ý kiến còn chưa nhất trí. Đối với hợp tác xã  Tín dụng,  Đảng uỷ chủ trương cho kiểm tra và thu tiền trả nợ cho dân. Qua 4 năm, đến năm 1994 Hợp tác xã tín dụng của phường đã thu và trả được 1,4 tỷ đồng. Mặc dù vậy, số còn nợ của các cổ đông là 64 triệu đồng, các cổ đông còn nợ tín dụng là 81 triệu đồng. Đến năm 1995, Hợp tác xã tín dụng phường đã thanh toán và còn nợ của cổ đông 45 triệu, cổ đông nợ của Hợp tác xã tín dụng là 80 triệu đồng.

Về văn hoá - xã hội thì có nhiều tiến bộ, chất lượng dạy và học có được nâng lên. Năm học 1993-1994 tỷ lệ thi tốt nghiệp của trường Ông Ích Khiêm đạt 100%, trường cấp II Lê Hồng Phong đạt 97%, trường Mẫu giáo Măng non 9 năm liền là trường tiên tiến, nhà trẻ Hoa Huệ năm học 1993-1994 đạt trường tiên tiến. Công tác xoá mù chữ và phổ cập cấp I cơ bản đã hoàn thành. Niên học 1994-1995, tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp trường Ông Ích Khiêm đạt 100%, trường Lê Hồng Phong 93%. Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn khó khăn, trường Lê Hồng Phong thiếu phòng học, trường mẫu giáo cơ sở 1 xuống cấp nghiêm trọng.

Năm 1995, trường mẫu giáo cơ sở 1 của  phường được sửa chữa và đưa vào sử dụng cho năm học 1995-1996. Đối với trường Ông Ích Khiêm lúc bấy giờ còn thiếu 4 phòng học, phải gửi học sinh qua học tại trường Nguyễn Huệ, phường đã kiến nghị với thành phố để đầu tư kinh phí và dự kiến là 1,1 tỷ đồng, hoàn thành trong 2 năm 1996-1997.

Về công tác văn hoá thông tin, trong điều kiện đường dây và phương tiện thông tin xuống cấp, nhưng cũng tạo được các hình thức tuyên truyền nhân các ngày lễ lớn, các cuộc vận động lớn nói chung có kết quả. Các hoạt động văn nghệ thể dục thể thao, dưỡng sinh, tham gia hội trại hội diễn của phường và thành phố đạt kết quả. Nhân dân hăng hái tham gia xây dựng gia đình văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

Công tác dân số gia đình trẻ em: Phường đã tổ chức mạng lưới tuyên truyền viên đến tận cơ sở. Kết quả toàn phường có 42/65 tổ dân phố không có trường hợp sinh con thứ 3, đạt tỷ lệ 13,1%, tỷ suất sinh tự nhiên đảm bảo và là 1 trong 4 phường có tỷ suất sinh thấp nhất thành phố.

Về công tác xoá đói giảm nghèo: Phường có nhiều biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh phát triển kinh tế gia đình, giải quyết cơ bản về việc làm cho người lao động. Năm 1994, diện đói đã được thu hẹp còn 10 hộ, và phường thực hiện trợ cấp thường xuyên, số nghèo còn tương đối đông là 280 hộ. Đến năm 1995 thì phường đã không còn hộ đói, chỉ có 19 hộ với 19 nhân khẩu ở diện trợ cấp cứu tế thường xuyên, số  này chủ yếu là những người già ca,í ốm đau. Số hộ nghèo là 137 hộ với 628 nhân khẩu. Nguyên nhân đói nghèo là do thiếu vốn, lao động không có hoặc do đau ốm bệnh tật thường xuyên. Từ năm 1993 đến năm 1995, phường đã triển khai nhiều đợt cho các hộ đói nghèo vay vốn với tổng số tiền luân chuyển là 57 triệu đồng. Ngân hàng nông nghiệp cho diện đói, nghèo vay với tổng số tiền là 95 triệu đồng.ì Năm 1995 có 78 hộ được vay vốn. Nhìn chung, nhờ nguồn vốn cho vay nên đã giải quyết được một phần khó khăn của người dân và góp phần  ổn định cuộc sống, xoá được 15 hộ đói, giảm 59 hộ nghèo. Ngoài quỹ xoá đói giảm nghèo, phường còn tạo điều kiện cho tập thể và tư nhân vay vốn từ nguồn quĩ quốc gia, trong đó có 5 dự án với số tiền là 140 triệu đồng. Ngoài ra, 1 số tổ phụ nữ ở khu dân cư Tân Lập 3, Bình An 1, Thanh Sơn 2 và các tổ chức hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội ngư dân của phường có tạo được nguồn vốn, hoặc cấp tr&ecir